Danh mục: Uncategorized

Ấm cà phê

Ấm chứa cà phê bằng đồng của Đức có đế to, thân ấm thu nhỏ dần lên phía trên, miệng ấm được tạo hình như mỏ chim, nắp ấm liền và có chốt chắc chắn như một chiếc chìa khóa. Quanh ấm có họa tiết là những dòng chữ được khắc vào thân ấm nói về thời gian diễn ra một sự kiện tại thành phố Hamburg (Đức).

Sự kiện triển lãm quốc tế về nghệ thuật ẩm thực, kinh tế đã diễn ra từ ngày 30/9 đến ngày 11/10/1905 tại khách sạn Frankfurt. Sự kiện hội tụ các công ty rang xay cà phê lớn trên thế giới lúc bấy giờ.

Trên thân ấm khắc chữ Đức “chrenpreis für die beste kaffeemühle gegeben von emil specht john. Caffee Roesterei Grossbetrieb. Hamburg. Internationale ausstelling kochkunst, hotel wirtschaftswesen Frankfurt”. Tạm dịch:  “Giải thưởng Chren cho máy xay cà phê tốt nhất do Emil Specht John trao. Caffee Roesterei Großbetrieb. Hamburg. Triển lãm nghệ thuật ẩm thực quốc tế, quản lý khách sạn Frankfurt”.

 

Bình hâm cà phê

Đây là ấm nấu trà có màu bạc có tên gọi là “Samovar”. Từ Sa-mo-var theo nghĩa đen có nghĩa là tự đun sôi. Đây là dụng cụ để đun nước trà không thể thiếu trong văn hóa Nga trong nhiều thế kỷ. Giờ đây, Samovar không chỉ là thiết bị để đun sôi nước mà những vật phẩm tuyệt đẹp này thể hiện sự hợp nhất thực sự của nghệ thuật và thủ công và thường được sử dụng như những yếu tố trang trí độc đáo, thêm nét quyến rũ gợi nhớ đến sự khéo léo mộc mạc của thời xa xưa, cùng ngồi thưởng thức trà nóng bên bàn gỗ cùng gia đình và tách trà được sẵn sàng cho người đam mê trà thưởng lãm. Samovar không chỉ là một phần của truyền thống ẩm thực trong quá khứ, nó đã trở thành một hiện tượng văn hóa ở nước Nga. Ở nhiều gia đình, ký ức về việc uống trà chung với thế hệ già và các cụ già của họ vẫn còn sống động. Một số người may mắn vẫn giữ được vật gia truyền của gia đình.

 

Ấm dallah

Bình pha cà phê Dallah truyền thống, được sử dụng để pha và phục vụ cà phê Ả Rập. Nó có nhiều loại và hình dạng tùy thuộc vào nơi nó được làm ra, các yếu tố phân biệt bao gồm trang trí, con dấu và tên của nhà sản xuất. Các loại Al-Dallah nổi tiếng nhất bao gồm Al-Hijazia, Al-Baghdadia, Al-Quraishiyya, Al-Halabya, Al-Hasawiya và Al-Hailiya. Dallah có thể được làm bằng đồng thau, thép, bạc và thậm chí là vàng 24K cho những dịp đặc biệt hoặc sử dụng bởi hoàng gia. Những Dallah này được đặc trưng bởi chất lượng và sự đa dạng về kích cỡ và hình dạng. Chúng thường được sản xuất bởi những thợ thủ công có tay nghề cao.

Một bình cà phê Ả Rập truyền thống được sử dụng trong nhiều thế kỷ để pha và phục vụ qahwa (gahwa). Từ qahwa đơn giản có nghĩa là cà phê trong tiếng Ả Rập, nó có rất nhiều biến thể đối với qahwa trong tiếng Ả Rập. Một số cà phê có màu sẫm và nhiều bọt, giống như cà phê Thổ Nhĩ Kỳ; hoặc qahwa Ả Rập nhạt với bạch đậu khấu và nghệ tây và có một chút màu xanh lục, bởi vì, nó được làm bằng hạt cà phê xanh, rang nhẹ; hay một loại cà phê cay, đắng truyền thống,… thường được phục vụ kèm với một loại gia vị là Bạch đậu khấu và không đường/hoặc có đường.

Nó phụ thuộc vào tùy từng vùng ở Trung Đông, nơi mà phần lớn, qahwa luôn có mặt trong những giao tiếp xã hội, trong các nghi thức chính của vòng đời người, chẳng hạn như sinh nhật, kết hôn và đám tang và một số cuộc họp kinh doanh. Dallah đã trở thành bản sắc của các quốc gia vùng Vịnh Ba Tư.

Dallah bằng đồng, được rèn thủ công với lớp hoàn thiện bằng đồng tán đinh, nổi bật với phần thân nhẵn, hình củ thuôn nhọn thành “vòng eo” ở giữa và loe ra ở phía trên, nắp hình chóp cao và được giữ bằng một tay cầm uốn lượn, vòi rót lớn và dài cong hình lưỡi liềm, được đậy bằng một nắp kim loại để giữ ấm cà phê, mang đặc trưng phong cách của nghệ thuật Hồi giáo Trung Đông thế kỷ XIX.

Bộ Thưởng lãm cà phê bằng sứ

Nhắc đến bộ thưởng lãm, thì không nhắc đến bộ sứ cao cấp của Đức có tên là bộ thưởng lãm cà phê của Hoàng Gia, được sản xuất vào thế kỷ XIX. Ngày nay, những bộ thưởng lãm này có rất nhiều mẫu mã, kiểu dáng và hoa văn, nhưng có lẽ, những dòng sứ này là cao cấp nhất và mang trong nó phong cách thượng lưu cho người sở hữu chúng; chiếc ấm tinh tế với chiếc vòi rót cong, chiếc quai cầm tựa một chiếc tai, ấm eo lại ở cổ ấm, đi kèm là một chiếc nắp rời nhỏ, những chiếc ly dùng để thưởng lãm cà phê Espresso nóng vô cùng tinh xảo, với độ sâu lòng 3,5cm, đường kính ly 5,5 cm, là một lựa chọn sang trọng cho chủ sỡ hữu chúng.

 

CÂU CHUYỆN MÁY RANG PROBAT

 

 

Lịch sử của chúng ta có rất nhiều cột mốc quan trọng hình thành nên con người chúng ta ngày nay. Cho phép chúng tôi đưa bạn vào cuộc hành trình bắt đầu với việc thành lập Emmericher Maschinenfabrik. Nó cho thấy động lực và tinh thần tiên phong của ba nhà sáng lập nổi tiếng của người Đức  đã phát triển thành một công ty toàn cầu là công ty dẫn đầu thị trường và công nghệ rang xay cà phê. Những năm  thành lập công ty, với đức tính siêng năng, đam mê kỹ thuật, tinh thần tiên phong và yêu cà phê – đó là những động lực thúc đẩy Alex Van Gülpen, Johann Heinrich Lensing và Theodor Von Gimborn thành lập Emmericher Maschinenfabrik und Eisengießerei vào năm 1868. Mục tiêu đầy tham vọng của công ty mới thành lập là mang cà phê vượt trội với chất lượng tái sản xuất và số lượng lớn ra thị trường – sử dụng máy rang cải tiến bền bỉ với thời gian, ngay cả ở quy mô công nghiệp. Từ chính suy nghĩ và tính toán kỹ lưỡng của ba thành viên kể trên, vào năm 1884 những đột phá của họ được công nhận bằng một chiếc bằng sáng chế đột phá. Với việc cấp bằng sáng chế cho Kaffeeschnellröster (‘máy rang cà phê nhanh’), một kỷ nguyên đổi mới mới bắt đầu. Bằng sáng chế này rất quan trọng đối với sự phát triển mang tính cách mạng của máy rang trống. Nguyên tắc cơ bản này của trống quay dọc theo trục nằm ngang vẫn là phương pháp rang cà phê chậm phổ biến nhất được sử dụng ngày nay. Với kí hiệu D.R.PATENT- Emmericher NO.382 Maschinenfabrik-mang tính duy nhất, cho đến năm 1920 máy rang cà phê đầu tiên ra đời có tên gọi là Probat, được sản xuất tại Nhà máy Máy Emmerich; Trải qua không ít khó khăn vì Thành phố Emmerich bị phá hủy hoàn toàn trong Thế chiến II. Nhà máy Máy móc Emmerich cũng trở thành nạn nhân của các cuộc tấn công tàn khốc vào năm 1944. Không dừng lại ở đó, sự thôi thúc niềm đam mê công nghệ của 3 thành viên trên, họ tiếp tục nghiên cứu Tại Nhà máy Máy Emmerich, cho ra khuôn đúc mới đầu tiên được đổ vào các xưởng sản xuất, Điều này đánh dấu sự khởi đầu của một kỷ nguyên mới…Trời không phụ lòng người, vào những năm 1950 sự bành trướng trỗi dậy, Công việc chứng thực mở rộng từ Đức sang thị trường Bắc Mỹ, và đã được thị trường này đón nhận, cho đến năm 1959 họ quyết định đổi tên nhà máy sau Mười năm xây dựng  Nhà máy Máy Emmerich và  từ đó Probat-Werke (Nhà máy Probat) ra đời. Có thể thấy rằng sự phát triển không ngừng nghỉ của thương hiệu công nghệ rang xay cà phê Probat là minh chứng cho sự phát triển sáng tạo của nhiều dòng máy khác nhau- Thương hiệu Probat được các thị trường châu Mỹ, châu Âu đón nhận, và nó trở thành người bạn đồng hành cho các thương hiệu cà phê nổi tiếng tại Đức, và đã trở thành hiện vật quý cho các nhà sưu tập hiện vật nổi tiếng của bảo tàng tư nhân Jenburg; tại bảo tàng này, chiếc máy rang Probat được chủ sỡ hữu nó chăm sóc rất đặc biệt, tuy không sử dụng, nhưng các linh kiện máy vẫn được làm sạch bụi theo tháng; cho đến năm 2000, bảo tàng Jenburg đã bán lại chiếc máy rang này cho Tập đoàn cà phê Trung Nguyên Legend, đã trải qua không ít khó khăn trong việc vận chuyển về Việt Nam, với đội ngũ kỹ thuật và am hiểu về công nghệ chuyên gia Trung Nguyên đã lắp đặt lại nguyên vẹn các linh kiện của máy và hoàn toàn sử dụng tốt, cho đến năm 2018 chiếc máy rang nổi tiếng Probat này được trưng bày tại bảo tàng Thế giới cà phê.

Cây Nêu của người Gia Rai/Jrai

Dân tộc Gia Rai/Jrai sống tập trung chủ yếu ở Gia Lai, Kon Tum, phía Bắc tỉnh Đắc Lắc và phía Tây tỉnh Phú Yên, miền Đông Bắc Cam-pu-chia (giáp tỉnh Gia Lai). Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, người Gia Rai ở Tây Nguyên có dân số đông nhất trong các dân tộc thiểu số là 506.372 người, bao gồm nhiều nhóm địa phương như: Chor, Hđrung, Aráp, Mthur, Tơbuăn…Họ cư trú đông nhất là ở tỉnh Gia Lai có 459.738 người, còn ở Đắk Lắk là 20.495 người.

Lễ cúng mừng lúa mới là phong tục lâu đời của đồng bào các dân tộc sống trên dãy Trường Sơn nói chung và người Gia Rai nói riêng. Lễ cúng mang ý nghĩa tôn vinh hạt thóc và cầu xin các thần linh cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, gia đình sung túc.

Người ta chọn một cây lồ ô cao lớn nhất trong vùng để làm thân cây Nêu. Dưới chân cây Nêu họ kết nối thêm bốn cây tre hoặc gỗ được giằng lại chắc chắn, vừa để giữa cho cây Nêu khỏi bị xe dịch, vừa biểu hiện sự khỏe mạnh, an lành. Tỏa ra bốn hướng là những cây lồ ô nhỏ, được trang trí tua làm bằng tre hoặc dây rừng bay phấp phới. Thân Nêu được trang trí các màu: đỏ và trắng, đây là màu sắc chủ đạo trong nghệ thuật điêu khắc của người Tây Nguyên.

Phần ngọn của cây Nêu tùy từng nhóm tộc người mà có những trang trí khác nhau, có nơi được chẻ ở phía trên tạo thành chiếc phễu hoặc hình một con chim đang tung cánh…, phía trên mỗi nhánh được trang trí bằng những túm bùi nhùi vót từ cây lồ ô.

Cây nêu này do nghệ nhân buôn Treng, xã Ea H’Leo, huyện Ea H’Leo chế tác.

Hrơi ngă yang Djuai ania Gia Rai/Jrai
Djuai ania Gia Rai/Jrai dŏ hơdip lu hloh lĕ ƀơi tơring čar Gia Lai, Kon Tum, kual kơdư tơring čar Đắk Lắk hăng kual Yŭ tơring čar Phú Yên, kual Ngŏ Kơdư dêh čar Kur (ha giăm hăng tơring čar Gia Lai). Tui hăng mrô jŭ yap akô̆ mơnuih hăng sang dŏ thun 2019, mrô mơnuih djuai ania Gia Rai/Jrai ƀơi kual Dap kơdư lu hloh pơhmu hăng hơdôm djuai ania ƀiă pơkŏn hăng 506.372 čô, hơmâo lu djuai dŏ hơdip ƀơi rĭm kual anun lĕ: Chor, Hđrung, Aráp, Mthur, Tơbuăn … Anih dŏ hơdip lu hloh lĕ ƀơi tơring čar Gia Lai hăng 459.738 čô mơnuih, dŏ glăi ƀơi tơring čar Đắk Lắk lĕ 20.495 čô mơnuih.
Hrơi ngă yang ƀong asơi hle lĕ gru grua pioh glăi mơng đưm đă ră hlâo kơ mơnuih djuai ania ƀiă dŏ hơdip kơtuai tui kơčong čư̆ Trường Sơn lăi hrŏm hăng mơnuih djuai ania Gia Rai hnun mơn, hăng tơlơi yôm kiăng kơ pơpŭ asar pơdai yua kơ yang rơbang pơjing brơi ană plơi pla hăng tơlơi čang rơmang yang wai pơgang brơi pơ-iă rơnang angĭn mơ-ak, bơyan pơdai jor kơtor mơboh, sang anŏ hơdip rơnom, trơi pơđao, yâo mơ-ak. Yua anun arăng juăt ruah sa ƀĕ đing O glông hloh amăng kual koh ba glăi pơkra phun drai. Ƀơi tơkai phun drai arăng dră trun pă ƀĕ krăm ƀudah kyâo jum dar hăng hruă nao rai brơi kjăp, kiăng kơ bong phun drai huăi pơpư̆ lư̆, laih dong kiăng kơ pơdah pran gơgrong kjăp, rơnuk rơnua. Jum dar phun drai arăng hlă phun O đơanet, hơmâo tol hơdôl hrĕ drĭ dră kơnih mơng krăm ƀudah hơdôm hrĕ kyâo mơng glai. Gong phun drai arăng pik ia mraih hăng kô̆, anai lĕ dua ia arăng juăt pik ƀơi rup kyâo trah mơng mơnuih djuai ania kual Dap kơdư. Tơdŭ phun O tui hluai djuai ania ƀơi rĭm kual dŏ hơdip juăt tol hơdôl gơnam phara, hơmâo anih arăng amra blah pơčlah lăng kar hăng mơbah hơkă rô, arăng akă klôn wŏt hơdôm djah krăm, đa hơmâo anih lăng kar hăng čim glăk por….
Phun drai yua mơnuih thâo pơkra phun dra ƀuôn Treng, să Ea H’Leo, tơring čar Ea H’Leo pơkra.

The Jrai’s Nêu pole

The Jrai live mainly in Gia Lai, Kon Tum in the North of Dak Lak province and in the West of Phu Yen province, in the Northeast of Cambodia (bordering with Gia Lai province). According to the 2019 census of population and housing, the Jrai in the Central Highlands had the most population among ethnic minorities with 506,372 people, including many local groups such as the Chor, the Hdrung, the Arab, the Mdhur, the Tobuan,etc. There were 459,738 people residing in Gia Lai province and 20,495 people in Dak Lak.

The New Rice Ritual is a long-standing custom of the ethnic minorities living on the Truong Son mountain range in general and the Jarai in particular. The Ritual is to honor the grains of rice and pray to the Gods for good weather, bountiful crops and prosperous families.

People choose the highest bamboo tree in the area to make the trunk of the Nêu pole. At the foot of the pole, four bamboo or wooden trees are firmly tiedto keep the pole from being moved, and to show health and well-being. Radiating in four directions are small bamboo trees, decorated with tassels made of bamboo or fluttering forest ropes. The Nêu pole is decorated with red and white that arethe dominant colors in the sculpture art of the Central Highlands.

The top of the Nêu pole is decorated with different patterns depending on the ethnic group, some places are split at the top to form a funnel or a bird spreading its wings…, on the top of each branch is decorated with tufts to made from bamboo trips.

This Nêu pole is made by the artisans of Treng village inEa H’Leo commune, Ea H’Leo district.

 

Cây Nêu của người Cơ Ho/K’Ho

Người Cơ Ho bao gồm nhiều nhóm địa phương như Srê, Chil, Nộp, Lạch (Lạt),T’ring, Cờ Dòn…cư trú tập trung tại các tỉnh: Lâm ĐồngBình ThuậnKhánh HòaNinh ThuậnĐồng Nai … Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, người Cơ Ho ở Tây Nguyên có dân số là 175.905 người. Họ cư trú đông nhất là ở tỉnh Lâm Đồng có 175.531 người.

Trong các lễ hội phổ biến của người Cơ Ho thường là lễ gieo sạ lúa, cúng dưỡng lúa và mừng lúa mới, họ còn tổ chức các nghi lễ, như: cầu mưa, cúng bến nước… vào những lễ hội trên, họ đều dựng cây Nêu, tùy theo mức độ quan trọng và con vật hiến tế của lễ hội mà người Cơ Ho dựng cây Nêu lớn nhỏ khác nhau.

Cây Nêu là nơi người Cơ Ho cúng yang, được trang trí độc đáo và sinh động được thể hiện từ cách sắp xếp, bố trí cho đến việc trang trí các hoa văn, họa tiết một cách hài hòa.

Cây Nêu của người Cơ Ho được trang trí rất tỉ mỉ và công phu. Khắp phần thân được trang trí các loại hoa văn hình học, hình mặt trời… với hai màu chủ đạo: đỏ, đen. Màu đỏ tượng trưng cho máu của con vật được hiến sinh, nói lên sự sống của con người và các loài vật. Màu đen của than củi muốn nói tới cuộc sống sinh hoạt thường ngày của con người.

Giữa phần thân có một thanh gỗ nằm ngang cũng được trang trí các hoa văn hình học. Thanh gỗ này dùng để treo những chùm các thanh gỗ vạt bản mỏng, nhẹ, khi cây Nêu được dựng lên, các thanh gỗ này sẽ va vào nhau mỗi khi gió thổi, phát ra âm thanh, ngụ ý mời gọi thần linh về dự hội.

Cây Nêu này do người Cơ Ho Srê ở xã Grung Ré, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng thực hiện.

Chi Gơnơng Kòn cau K’ho
Cau K’ho geh uă jơi krơi is, bè Sre, Cil, Nộp, Làč, T’ring, Cơdòn…ơm kis uă tàm ală càr: Lâm Đồng, Bình Thuận, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Đồng Nai…Jăt khà kờp bơh Dơ̆ lùp kờp jơh khà kờp làng bol mờ hìu ơm nam 2019, cau K’ho tàm Tây Nguyên geh khà kờp làng bol là 175 rbô 905 nă. Khi ơm kis gal ngan rlau jơh là tàm càr Lâm Đồng geh 175 rbô 531 nă.
Tàm ală dơ̆ lơh yàng pơrjum ñô sa chờ hờp uă ngan bơh cau K’ho dê là dơ̆ lơh yàng sih tam kòi, lơh yàng sơngka sền gàr kòi, mờ lơh yàng ñô lir bông (lơh yàng sa piang kòi pa), khi gam bơyai lơh ală broă lơh yàng, bè: răc dan mìu, lơh yàng dà mbòr…tàm ală dơ̆ lơh chờ do, khi ndrờm lơh chi gơnơng, gơ jăt tàm bơta kwơmàng mờ phan ơn pơdơng lơh yàng bơh dơ̆ lơh yàng dê mờ cau K’ho lơh chi gơnơng dờng, dềt krơi is.
Tờm chi gơnơng là tiah cau K’ho lơh yàng duh khuai, geh bơka krơi is niam bơnĕ ngan mờ duh hồl ngan geh tơngŏ bơh broă rơndăp tăp sèng, rơndăp ơn tus broă bơka ală rùp sềr, rùp bơka dùl bă niam bơnĕ ngan.
Chi gơnơng bơh cau K’ho dê geh bơka nền nòn ngan mờ jơh uă ngan tŭ jiơ. Jơh gùt tờm gơnơng geh bơka ală rùp sềr hìñ họk, rùp măt tơngai…mờ bàr rùp dà sơng tờm: pơrhê mờ jù. Dà pơrhê pơrya ai mhàm bơh phan geh ơn pơdơng lơh yàng dê, đơs tus bơta kis bơh kòn bơnus mờ ală jơi phan dê. Rùp dà jù bơh chah lòng dê kờñ đơs tus rài kis ơm kis pah ngai ờs mờng bơh kòn bơnus dê.
Tàm gùl tờm chi gơnơng geh dùl nrang dơm chi ơn bơkang kung geh bơka ală rùp sềr hìñ họk sơl. Nrang dơm chi do ngui nàng yồng ală căp pet lel lơhơ, nggờč, tŭ chi gơnơng geh ntàu, ală căp pet lel do geh tam tŭp bal pah tŭ geh càl khồm puh, gơlik săp ntas, gơtha jơnau hòi jà yàng rê tus bal dơ̆ lơh yàng pơrjum ñô sa chờ hờp bal.

The K’Ho Nêu pole

The K’Ho include many local groups such as the Sre, Chil, Nop, Lach (Lat), T’ring, Co Don … residing in Lam Dong, Binh Thuan, Khanh Hoa, Ninh Thuan and Dong Nai provinces… According to the 2019 census of population and housing, the K’Ho in the Central Highlands had a population of 175,905 people.  The most populous was in Lam Dong province with 175,531 people.

In the popular festivals of the K’Ho, there are usually  rituals such as rice sowing, rice cultivation new rice celebration. They also organize rituals such as praying for rain, the water wharf ritual… In these festivals, the Nêu pole is built, and depending on the importance and offerings of the festival, the K’Hobuild a Nêu pole of different sizes.

The Nêu pole, the place where the K’HoSrê at Grung Ré commune, Di Linh district, Lam Dong province to worship Yang, is uniquely and vividly decorated, which is shown from the arrangement and layout to the decoration of patterns and motifs in a harmonious way.

The Nêu pole of the K’Hois meticulously and elaborately decorated. The whole body is decorated with geometric patterns and the sun … with two main colors: red, black. The red color represents blood of the sacrificed animal, representing the life of humans and animals. The black color of charcoal refers to the daily life of people.

In the middle of the Nêu pole, there is a horizontal wooden bar that is also decorated with geometric patterns. This wooden bar is used to hang beams of thin and light wooden slats. When the tree is erected, these wooden slats will collide with each other every time the wind blows, making sounds, implying to invite the Gods to the festival.

 

Đây là một trong những phong cách thưởng lãm của nền Văn minh cà phê Roman

Trong lĩnh vực Thưởng thức và Tận hưởng cà phê được khởi xướng sau cuộc đại Cách mạng Pháp lật đổ chế độ phong kiến năm 1789. Biểu trưng cho nước Pháp thời kỳ ấy là thủ đô Paris với những quán cà phê mang phong cách lịch thiệp, sang trọng và nhất được mệnh danh French Class (Đẳng cấp Pháp).

Điều này được thể hiện  thông qua sự dịch chuyển của không gian và địa thế của những nơi đặt định các quán cà  phê nổi tiếng tại Paris từ cuối thế kỉ XVIII đến nửa cuối thế kỉ XX, là sự phát triển của các thể loại quán cà phê liên quan đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như: văn học, nghệ thuật, chính trị, xã hội…Có thể nói rằng, các quán cà phê là một phần bản chất của Paris.

“Quán cà phê Paris” —nếu có hai từ gợi lên ý tưởng, hình ảnh hoặc bản chất của lối sống Pháp, thì đó chính là những từ này. Khái niệm về xã hội quán cà phê có từ giữa thế kỷ 19 và được tiên phong ở Paris, một thành phố nơi xã hội hóa, tranh luận và vui vẻ được coi là de rigueur (tạm dịch là Sự nghiêm khắc). Quán cà phê đầu tiên ở Pháp là Le Procope nằm ở tả ngạn, được mở vào năm 1686 như một nơi gặp gỡ trao đổi giữa các tầng lớp văn minh bao gồm Rousseau, Diderot và Voltaire (Napoléon cũng là một vị khách thường xuyên). Có một thời gian người ta thấy tư duy tốt nhất về nước Pháp, trong nghệ thuật và chính trị, đa số được phát ra từ các quán cà phê. Và những ý tưởng, xu hướng và chủ đề xuất hiện từ những mạng lưới không gian mở này đã giúp hình thành nhịp sống của Kinh đô hoa lệ.

Tất nhiên, đó là mấy mươi năm trước, còn ngày nay lối sống hiện đại đã thay đổi rất nhiều, vậy danh xưng Đẳng cấp Pháp (French Class) hiện nay như thế nào? Ngày nay, được mệnh danh là Kinh đô Ánh sáng, Kinh đô Thời trang, nhưng không chỉ vậy. Pháp và Paris vẫn nổi tiếng với nền ẩm thực đặc biệt trên toàn thế giới với những nhà hàng sang trọng và nổi tiếng, những đầu bếp giỏi, danh tiếng trên toàn thế giới và những người sẽ biết cách làm hài lòng vị giác của bạn với những thực đơn tinh tế, đó là những tác phẩm nghệ thuật thực sự được tạo ra nhờ trí tưởng tượng và tài năng của họ. Cổ điển và hiện đại, những hàng quán ở đây vẫn mang phong cách Đẳng cấp Pháp (French Class), nhưng với những nét hiện đại sẽ làm thăng hoa sự thưởng lãm của thực khách mà chất lượng vẫn luôn đảm bảo sự hài lòng của người thưởng lãm.

  • 1
  • 2