Tác giả: Dạ Hiếu

Ấm pha trà Trung Hoa

Khi nhắc đến trà đạo chúng ta không thể nào bỏ qua trà đạo Trung Quốc. Trà được đưa vào trong thơ ca, nhạc họa và đã trở thành một thức uống quen thuộc không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân Trung Hoa. Họ xem thưởng trà như một cách để cảm nhận vẻ đẹp bình dị của cuộc sống.“Tĩnh lặng, hài hòa, trung thực” chính là những từ dùng để miêu tả cho nét văn hóa nghệ thuật trà đạo Trung Quốc. Sự tĩnh lặng, thanh thản của vẻ bề ngoài hay nét lặng yên bên trong tâm hồn của con người đó chính là những gì trà đạo mang đến cho người thưởng thức trà.

Trà đạo Trung Hoa được coi là một trạng thái đỉnh cao của hư không và là thước để đo độ tĩnh tâm. Tâm tĩnh thì thưởng trà mới ngon. “Tâm” được thể hiện ở từng công đoạn pha trà từ chuẩn bị nguyên liệu cho đến pha chế, người pha cần phải thật sự tâm huyết để có được một ấm trà ngon trọn vị và người thưởng trà sẽ cảm nhận được sự tinh tế và thanh mát trong từng ngụm trà. Khi cái tâm của người pha trà đạo không tĩnh họ sẽ pha ra chén trà thiếu mất đi sự tinh tế và chỉn chu. Vì vậy, trong lòng phải sáng tỏ không có vướng bận chuyện gì và phải thật tĩnh lặng thì mới pha tách trà thanh khiết nhất. Cũng giống như trà đạo Nhật Bản, lễ nghi thưởng trà là điều không thể thiếu và vô cùng quan trọng đối với văn hoá trà đạo của người Trung Hoa. Lúc đầu, trà đạo Trung Hoa chỉ dành cho tầng lớp quý tộc, nhưng hiện nay trà đạo đã trở thành một nét văn hóa nghệ thuật của người Trung Quốc. Mọi người cần đến sự yên tĩnh, hòa hợp với thiên nhiên, muốn tịnh tâm để suy nghĩ về cuộc sống, quan sát những sự vật diễn ra xung quanh trong một không gian nhẹ nhàng, thanh thản thì trà đạo là một giải pháp hợp lí nhất. Mỗi ngụm trà thưởng thức đều có vị đắng sau đó để lại vị ngọt thanh như cuộc sống hàng ngày. Trà đạo giúp cho mọi người trở nên điềm tĩnh, cẩn thận hơn cũng như giúp mọi việc được xử lý nhẹ nhàng, đơn giản và chỉn chu hơn bao giờ hết.

Chinese teapot

The Chinese tea ceremony must be taken into account while discussing tea rituals. Tea has made its way into Chinese literature and music, becoming an integral part of the country’s culture and psyche. They believe that drinking tea is the best way to appreciate life’s simple elegance. As a way to define the Chinese art and culture of tea, the terms “silence, peace, and honesty” are often employed. The stillness and serenity of the outside or the inner silence of the human soul is what the tea ceremony brings to the tea drinker.

The Chinese tea ceremony is considered to be the pinnacle of nothingness and the yardstick for measuring peace of mind. You can enjoy the new delicious tea only when you clear your mind. The brewer needs to be particularly eager to achieve a full-flavor teapot (Tâm), and the drinker will sense the complexity, because “mind” is displayed in each stage of the tea brewing process, from preparation of the materials to preparation. and refreshing with each cup of tea. When the tea maker’s thoughts are racing, the resulting brew lacks finesse and honesty. Making the best cup of tea requires you to be calm, have no worries, and have a clear head. There is no Chinese tea culture without the tea ceremony, just as there is no Japanese tea culture without the tea ceremony. Chinese tea culture places a high value on the tea ceremony for the same reasons as the Japanese do. Each individual need a sense of tranquility, harmony with nature, the desire for inner peace in order to reflect on their lives, to ponder the little things that add up to a big picture, and to systematically analyze the big picture. The bitterness of the tea is followed by a pleasant sweetness, much like regular life. The ritual of making and drinking tea has been shown to have a number of positive effects, including a calming effect on participants and an increase in their attentiveness and concern.

Thưởng trà luôn hiện diện trong sinh hoạt hằng ngày của mỗi người Á Đông như một thú vui tao nhã, bình dị, lâu dần uống trà trở thành một truyền thống tinh tế, không phải bởi vì hương vị thơm ngát mà còn mang đến nhiều lợi ích cho sức khỏe, cả về thể chất lẫn tinh thần. Không gian thưởng trà của người Á Đông có quy mô không lớn, nhưng thường được sắp xếp gọn gàng, đơn giản, gần gũi với thiên nhiên, tạo nên không gian sống sạch sẽ, thoáng mát. Cùng với hoa tươi và cây xanh mang lại cảm giác như hơi thở thiên nhiên đang hiện hữu, giúp tinh thần được sảng khoái và phấn chấn hơn.

Đối với người Trung Quốc, nghệ thuật pha trà đạo chính là “Tĩnh lặng, hài hòa, trung thực”, sự tĩnh lặng, thanh thản của vẻ bề ngoài hay nét lặng yên bên trong tâm hồn của con người đó chính là những gì trà đạo mang đến cho người thưởng thức trà. Lắng nghe một bản nhạc nhẹ nhàng và nhâm nhi tách trà để nuôi dưỡng tâm hồn thanh thản là điều mà mọi trà nhân hướng đến; Người Hàn Quốc thưởng trà lại chủ yếu được dâng lên bàn thờ tổ tiên, thần thánh. Họ coi việc uống trà như một hình thức thư giãn và tưởng niệm khi không cần những nghi thức cầu kỳ nhưng vẫn trang trọng; Đối với người Nhật Bản, trà gắn liền với tinh thần thiền của Phật giáo, khi thưởng thức trà đạo, con người phải thật hòa mình vào thiên nhiên, để tâm hồn được lắng đọng, thanh khiết, tu tâm dưỡng tính; Đối với người Việt Nam, có lẽ lịch sử thưởng trà gắn liền với quá trình sản xuất ra các dụng cụ pha trà. Những hiện vật làm bằng gốm, sứ được ví như một nhân chứng sống để chứng minh cho phong cách ẩm thực trong đó có uống trà của người Việt khác xa với người Trung Quốc hay Nhật Bản.…

Văn minh Cà phê Thiền tiếp thu tinh thần của Trà Đạo phương Đông và truyền thống thưởng lãm cà phê của các quốc gia trên thế giới, trong đó tinh hoa của trà đạo Nhật Bản như Hòa, Kính, Thanh, Tịch được vận dụng vào Văn minh Cà phê Thiền dưới góc nhìn của triết lý Cà phê, của tinh thần Lối sống Tỉnh thức. Hòa, là sự thông hợp giữa tâm và cảnh, giữa ta và người; Kính, là tâm thế cần thiết để tăng cường giác ngộ về Hòa, biết trân trọng sự sống, biết trân quý từng giây, từng phút mình đang sống, từng con người mà mình đang đối diện, từng cảnh vật mà mình đang ngắm nhìn; Thanh, là sự trong sáng của tinh thần, là cái tinh khiết cốt lõi tinh túy của phần Nhân trong cách suy nghĩ và hành xử của bản thân con người; Tịch, là trạng thái tinh thần lặng yên mở ra một cách cảm nhận mới để từ đó thấu triệt được ý nghĩa cao quý nhất của sự tồn sinh trong nhân giới. Chính vì vậy, thưởng lãm cà phê Thiền không chỉ dựa hoàn toàn vào sản phẩm, mà còn phải dựa vào không gian nơi thưởng lãm, phong thái, thanh sắc và thanh âm nơi thưởng lãm cà phê là những nét khác biệt rất

riêng của Văn minh Cà phê Thiền.

Asian tea culture

Enjoying tea has always been a simple and elegant pleasure for East Asians. Over time, drinking tea has become a sophisticated tradition because of its delectable taste and various physical and mental health benefits. Places for tea in Asia are often miniature, neatly arranged, and simple, with green space, creating a clean and open environment. You will become one with nature with surrounding fresh flowers and plants. This will refresh and boost your spirit.

For the Chinese, the secret of making tea is “Silence, harmony, honesty.” The peace and serenity on the outside, the inner tranquility of the soul. That is what the tea ceremony offers. Listening to a soothing song and sipping a cup of tea to nurture a serene soul is what every tea lover wants. In South Korean tradition, tea is mainly offered on the altar of ancestors and gods. They consider tea drinking a form of relaxation and remembrance when no elaborate but formal rituals are required. For the Japanese, tea is associated with the meditation of Buddhism. During the tea ceremony, humans and nature have to become one so that the soul can be free and pure and cultivate the mind. For the Vietnamese, the history of tea drinking is related to the production of tea utensils. The ceramics and porcelain artifacts prove that Vietnamese people’s culinary style, especially tea drinking, is far different from Chinese or Japanese…

The Zen coffee culture was inspired by the Eastern Tea Ceremony and the traditions of enjoying coffee from around the world. The quintessences of Japanese tea ceremonies, Harmony, Respect, Purity, and Tranquillity were applied coffee culture from the perspective of Coffee philosophy, the spirit of the Mindful way of life. Harmony is the combination of mind and scene, of oneself and others. Respect is necessary to increase awareness of Harmony, to appreciate life, and cherish every second of it, every person we meet, and every scene we see. Purity is good nature, the core of humanity in thinking and behaving. Tranquility is a peaceful mental state that opens up a new way of sensation to understand the highest meaning of existence in this world. Thus, enjoying Zen coffee is not only based entirely on the product but also on the space where the coffee is enjoyed, style, color, and sound. Those are the elements that create the originality of the Zen coffee culture.

Bộ cối gỗ (ST148)

Bộ cối chày gỗ cổ xưa của Việt Nam, niên đại từ thế kỷ XIX đến XX, được chế tác theo phong cách hoàn toàn thủ công với 1 thân gỗ nguyên khối, không lắp ghép.

 

Tước (hay bôi) là cái chén có chân, tước cao 12cm, men lam, đề tài hoa dây, thuộc lò gốm Chu Đậu, Hải Dương,Việt Nam, thời Lê sơ, thế kỷ XVI. Gốm hoa lam có từ thời Trần, xem ra còn thô phác, mộc mạc, đơn điệu, qua bàn tay thợ gốm Chu Đậu, chúng phong phú, đa dạng với những tuyệt phẩm đầy tính sáng tạo, được thể hiện từ loại hình đến hoa văn trang trí. Phần lớn, các loại gốm hoa lam được làm từ loại đất sét trắng, được tinh luyện khá kỹ, nung ở nhiệt độ 1300oC. Chủ đề trang trí hoa  dây  trên tước gốm bằng bút lông và màu lam.

Chu Dau stem cup

Stem cup is a cup with a leg, 12cm in height, blue enamel, flower string theme, belonging to Chu Dau pottery kiln, Hai Duong, Vietnam from the early Le Dynasty in the XVI century. Through the hands of Chu Dau potter, primitive, rustic, and monotonous blue patterned ceramics from the Tran dynasty became rich and diverse with creative masterpieces, expressed in various shapes and decorative patterns. Most of the blue patterned ceramics were made from white clay, which was refined quite well at 1300oC. Ceramic stem cups were decorated with flower strings by brush in blue color.

 

Bình có dáng của đàn tỳ bà, hoa lam, vẽ khóm trúc và chim chích chòe, gốm Chu Đậu, Hải Dương, Việt Nam, thời Lê sơ, thế kỷ XVI. Bình cao 30cm, chu vi bụng 16cm, miệng rộng 8,5cm.Từ những năm cuối thế kỷ thứ 14, thời Lê ra đời loại gốm hoa lam dần dần thay thế cho vị trí độc tôn của gốm hoa nâu và gốm men ngọc. Gốm hoa lam là bước đánh dấu sự phát triển trên phương diện kỹ thuật cũng như là mỹ thuật của nghề gốm thời bấy giờ. Gốm Chu Ðậu chỉ được biết đến và tìm hiểu từ khi ông Makato Anabuki (thuộc đại sứ quán Nhật Bản ở Hà Nội) nhìn thấy một bình cao cổ men trắng xanh, hoa văn cánh sen và hoa mẫu đơn, trên đó có ghi năm và nơi sản xuất, được trưng bày ở viện bảo tàng quốc gia Istanbul của Thổ Nhĩ Kỳ. Ðịa danh Nam Sách Châu cho ta biết nơi chế tạo (phủ Nam Sách tỉnh Hải Dương), và chữ Thái Hòa bát niên cho ta biết năm chế tạo (1450 năm Thái Hòa thứ tám, đời vua Lê Nhân Tông).

Ts. Phạm Quốc Quân, nguyên Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cho biết “dưới con mắt của những người thưởng ngoạn và nghiên cứu trên hầu khắp các quốc gia, chúng có một vị trí đặc biệt hấp dẫn, theo đó, các bảo tàng lớn ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia, Philippines, Singapore, Úc, Bỉ, Pháp, Đức, Anh, Mỹ v.v. đều có một phần trưng bày gốm Việt Nam, tùy ở mức độ khác nhau, với những không gian trang trọng và những lời giới thiệu hấp dẫn”. Năm 1983 ở làng Chu Ðậu, người ta đào được các di tích lò gốm. Việc tìm kiếm, khai quật bắt đầu và người ta tìm thấy cả một nền đồ gốm rực rỡ, thịnh vượng kéo dài 3, 4 thế kỷ, mà trung tâm là phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Ở đây, ngoài làng Chu Ðậu, còn có các lò gốm khác ở làng Vạn Yên, làng Gốm, làng Ngói, làng Phú Ðiền, làng Phúc Lão, làng Cậy….

Chu Dau vase

The vase has the shape of Chinese pipa with blue flowers, painted bamboo clumps and warblers, Chu Dau pottery, Hai Duong, Vietnam, early Le dynasty, the XVI century. The vase is 30cm in height, 16cm in belly perimeter with a mouth of 8.5cm in width. Brown patterned ceramics and celadon ceramics had their distinctive places until the late 14th century, when the Le dynasty began to replace them with blue patterned ceramics. Blue patterned ceramics marked the development of both technique and the art of pottery at that time. Chu Dau ceramics has only been the topic of discussion and research after Mr. Makato Anabuki (an employee of the Japanese embassy in Hanoi) saw a blue and white glazed turtleneck vase with lotus petals and peony patterns. There was the year and the place of manufacture written on this particular vase. It was displayed at the Istanbul national museum of Turkey. The word “Nam Sach Chau” indicates the place where this vase was made (Nam Sach district, Hai Duong province), and “Thai Hoa bat nien” implies the year of making (1450, the eighth of Thai Hoa during the reign of King Le Nhan Tong).

Dr. Pham Quoc Quan, former director of the Vietnam National Museum of History, said, “In the eyes of enthusiasts and researchers from all over the world, they have a special attraction. Major museums in Japan, Korea, Indonesia, Philippines, Singapore, Australia, Belgium, France, Germany, UK, USA, etc., display Vietnamese ceramics with formal areas and engaging introductions”.(https://chudauceramic.vn/tuong-dai-gom-chu-dau-dinh-cao-choi-sang-cua-gom-viet). Relics of pottery kilns was found in Chu Dau village in 1983. Glorious and prosperous pottery was discovered during the search and excavation. It existed for three to four centuries in Nam Sach district, Hai Duong province. There are other ceramic villages beside Chu Dau. For example, Van Yen village, Gom village, Ngoi village, Phu Dien village, Phuc Lao village, Cay village…

Ấm bằng đồng có tay cầm ngang có từ thời nhà Nguyễn, thế kỷ XIX – XX. Đồ đồng gắn với nhân dân ta trong suốt trường kỳ lịch sử, đây là kim loại quý được làm bản vị của các giá trị trao đổi từ xa xưa, được xem là kim loại thiêng để đúc tượng thờ và nhiều đồ tế khí như trống đồng, chuông đồng. Bên cạnh đó, đồ đồng vẫn gắn chặt với cuộc sống sinh hoạt đời thường của mọi tầng lớp người dân trong xã hội phong kiến Việt Nam. Đồ đồng Phong kiến Việt Nam từ thế kỷ 11 đến cuối thế kỷ thứ 19 sang đầu thế kỷ 20, tồn tại và phát triển trong suốt thời kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Nó còn ở lại với chúng ta đến ngày nay không nhiều, song thật đáng khâm phục và tự hào về trình độ luyện kim, đúc đồng của ông cha ta.

Chum chè thời Lý, cao 12cm, hình dáng vai nở, thu nhỏ về phía đáy, chum có 4 vấu chạy quanh vai, có nắp đậy, nước men màu trắng ngà. Ba yếu tố cơ bản tạo nên sự đặt biệt của sản phẩm gốm thời Lý – Trần là: Hình dáng – Hoa văn trang trí, màu men và kỹ thuật nung. Về hình dáng và hoa văn của gốm thường là những hình mẫu trong thiên nhiên như hoa, quả với cách miêu tả giản dị, mộc mạc rất gần gũi với thiên nhiên và con người Việt Nam. Về kỹ thuật, lò nung gốm Lý – Trần có một bước tiến lớn như việc sử dụng các lò cóc, lò nằm, có khi cả lò rồng để nâng nhiệt độ nung cho sản phẩm lên đến 1.200 độ C – 1.300 độ C. Việc tạo ra nước men trắng là vô cùng đặc biệt trong giai đoạn này. Đây là một hiện vật quý hiếm và thời xưa có thể đã được sử dụng trong những gia đình quyền quý, gốm trắng không có chút hoa văn nào, tự dáng hình và chất lượng men tạo ra vẻ đẹp của nó.Trải qua hàng nghìn năm tới nay, các sản phẩm gốm thời Lý – Trần vẫn là những minh chứng về thời kỳ vàng của lịch sử gốm Việt Nam.

Tea jar of the Ly dynasty

This 12cm high tea jar of Ly dynasty has expanded shoulder shape and narrows down to the bottom, 4 lugs running around shoulder, a lid, and ivory white enamel. The three basic factors that distinguish ceramic products from the Ly – Tran dynasties are: Shape – Decorative patterns, enamel colors and firing methods. In terms of ceramic shapes and patterns, they are usually simple, rustic depictions of natural patterns like flowers and fruits that are very close to nature and Vietnamese people. In terms of technique, Ly – Tran ceramic kilns have advanced significantly thanks to the use of toad kilns, lying kilns, and occasionally even dragon kilns to increase the firing temperature to 1,200 degrees Celsius – 1,300 degrees Celsius. During this stage, the creation of white glaze is extremely important. The ceramics of the Ly and Tran dynasties were so well-made that not only were them widely used throughout Vietnam but they began to be exported to many other nations, proving their popularity and gaining a worldwide respect. Ceramic products from the Ly – Tran dynasties have persevered for thousands of years as reminders of the golden era of Vietnamese ceramic history.

Chén Chu Đậu vẽ hoa sen dây mặt ngoài và ở giữa lòng chén. Men gốm Chu Ðậu rất phong phú: như men ngọc (celadon), men nâu, men trắng, men lục. Tuy nhiên tiêu biểu nhất là men trắng trong với hoa văn màu xanh (men trắng chàm) và men trắng trong với hoa văn ba màu vàng, đỏ nâu và xanh lục (men tam thái). Men ngọc, men trắng, men nâu và men nâu đen thường bị lẫn với đồ gốm đời Lý Trần, tuy nhiên, hoa văn trên men Lý nhiều ảnh hưởng Phật giáo, hoa văn Chu Ðậu phản ảnh đời sống nông thôn Việt Nam, hoa văn trên men Lý thường được vẽ bằng cách khắc chìm hay khắc nổi, hoa văn Chu Ðậu được vẽ bằng men màu. Trên vành ngoài miệng chén cũng có những vòng đồng tâm.