Câu chuyện văn hóa thổ cẩm dân tộc Mường

03/02/2021

So với các dân tộc khác thiểu số miền núi phía Bắc, đồng bào Mường đến Tây Nguyên sớm nhất, từ những năm 50 của thế kỷ trước. Đồng bào Mường ở tỉnh Hòa Bình di cư đến sinh sống chủ yếu tại một số thôn của xã Hòa Thắng và xã Ea Kao, thành phố Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk). Đồng bào dân tộc Mường ở Thanh Hóa di cư vào muộn hơn thì định cư ở các xã thuộc huyện Ea Kar (Đắk Lắk) như: Ea Păl, Ea Ô, Ea Sar, Cư Elang, Ea Đar, Cư Ni, thị trấn Ea Kar. Ngoài ra, người Mường còn cư trú rải rác ở các huyện khác như: Krông Pach, Krông Bông… Ở Gia Lai, người Mường Hòa Bình sinh sống tập trung tại xã Ia Lâu, huyện Chư Prông. Tại Kon Tum, đợt di dân của người Mường vào đây sớm nhất là năm 1992, tập trung ở xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi. Theo số liệu Tổng điều tra dân số các dân tộc năm 2009, người Mường ở Tây Nguyên có 35.544 người.

Với bản tính cần cù, chịu khó, họ đã tạo dựng được cuộc sống mới ấm no, trù phú trên quê hương mới. Từ chỗ ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, nhà cửa lụp xụp, đến nay hầu hết người Mường đều đã có vườn cà phê và tiêu xanh tốt, nhà cửa tiện nghi đầy đủ…

Cùng với nét văn hóa “Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lui, tháng tới” được thể hiện rõ nét qua câu tục ngữ trong văn học dân gian Mường, trang phục truyền thống của phụ nữ Mường có giá trị phong phú, đặc sắc, tinh tế – một hiện thân sống động của tư duy triết học và nghệ thuật tạo hình độc đáo bậc nhất trong chiều sâu lịch sử văn hóa dân tộc Mường.

Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Từ Chi đã từng viết: “Họ không khắc lên gỗ, lên đá, lên đồ gốm, lên kim loại, không tạc tượng gỗ, tượng đá, không nặn tượng đất, không đúc tượng đồng mà họ dệt cái quan niệm thẩm mỹ của mình lên cạp váy phụ nữ! Cạp váy ở đây, là như tượng, như tranh!”. Quả thật cái hay, cái đẹp, tinh túy và thâm sâu nhất đã được khắc họa trên bộ trang phục truyền thống của phụ nữ Mường.

Hiện nay, bộ trang phục truyền thống thường được mặc vào các dịp lễ, Tết, còn ngày thường thì chỉ có các bà, các mẹ hay mặc. Trang phục truyền thống của người Mường có hai màu sắc chính là nâu và trắng. Áo pắn (áo ngắn) có cánh thân ngắn đến chấm eo lưng, xẻ ngực, ống tay dài. Bên trong là loại áo báng (yếm) cùng với đầu váy nổi lên giữa hai vạt áo ngắn. Điểm nhấn của bộ trang phục nằm ở đầu váy và cạp váy. Khi mặc, mảng hoa văn nổi lên giữa trung tâm cơ thể. Đặc biệt, phần cạp váy thể hiện sự tinh tế, khéo léo, sâu sắc của người dệt. Phần này thường do ba bộ phận dệt riêng rồi can lại với nhau. Đi đôi với váy là bộ tênh, thường bằng vải đũi, màu xanh hoặc màu vàng, dài hơn sải tay, khâu nối hai đầu, thắt đúng giữa eo trên nền cao váy, làm nổi eo người mặc. Bộ sà tích bằng bạc được móc vào tênh từ bên hông đeo vòng về phía trước. Màu sắc bộ trang phục phụ nữ Mường không rực rỡ nhưng trang nhã, sâu sắc, thể hiện tính cách của người phụ nữ Mường – chân thành, trầm lắng và hết sức tinh tế. Qua bộ trang phục truyền thống xưa kia cũng thể hiện rõ được gia thế, độ tuổi, tầng lớp phụ nữ và các vùng Mường.

Đặc biệt, trong bộ trang phục của phụ nữ Mường, chiếc khăn đội đầu có ý nghĩa quan trọng. Khăn có màu trắng. Người Mường quan niệm màu trắng như một sự tinh khiết, thanh cao, là bầu trời, một cõi cực lạc và thoát tục nên phụ nữ Mường đội đầu bằng chiếc khăn màu trắng để thể hiện lòng kính trọng và tôn vinh. Bên cạnh ý nghĩa về màu sắc, nét tinh tế, độc đáo, mang đậm tính triết học về nhân sinh quan của văn hóa Mường còn được thể hiện rất rõ trong cách đội khăn. Chiếc nút thắt của khăn nằm ở vị trí phía trên búi tóc thể hiện cho sự yên bình. Ngoài ra, bộ trang phục còn có áo chùng (chỉ mặc trong ngày lễ hội), khăn thắt áo, cạp cấu váy, vòng bạc, vòng cườm đeo cổ, đeo tay…

Những phụ nữ Mường khi diện trang phục truyền thống gắn kết với phong thái nhẹ nhàng, duyên dáng cảm thấy tự tin, mềm mại và uyển chuyển hơn. Mỗi chi tiết trên trang phục không chỉ thể hiện giá trị văn hóa mà còn cho thấy sự khéo léo của những cô gái. Những cô gái Mường khoác trên mình bộ trang phục rực rỡ, tựa như những bông hoa đủ màu sắc rực rỡ giữa đại ngàn Tây Nguyên.

skype