Câu chuyện văn hóa thổ cẩm dân tộc Mông

03/02/2021

Người Mông là một trong những dân tộc thiểu số có dân số đông nhất ở Việt Nam, là dân tộc nhập cư vào Tây Nguyên, họ đến từ các tỉnh miền núi phía Bắc, Việt Nam, chủ yếu là thuộc các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang và Sơn La. Ở Đắk Lắk, người Mông sinh sống ở hầu khắp các huyện trong tỉnh, song tập trung đông nhất tại 8 huyện (Krông Bông, Mdrăk, Ea Sup, Krông Păk, Lăk, Krông Năng, Čư Mgar, Ea Kar). Theo số liệu Tổng điều tra dân số các dân tộc năm 2009, người Mông ở Tây Nguyên có 48.877 người.

Người Mông được phân biệt thành nhiều nhóm: Mông Đơ (Mông Trắng), Mông Đu (Mông Đen), Mông Lềnh (Mông Hoa), Mông Si (Mông Đỏ), Mông Dua (Mông Xanh), Mông Xúa (Mông Mán) và nhóm Na Mẻo. Sở dĩ người Mông được phân biệt thành các nhóm như vậy là dựa trên sự khác nhau về trang phục và ngôn ngữ giữa các nhóm Mông. Ví dụ người Mông Trắng mặc váy màu trắng, người Mông Đen thì mặc váy thiên về màu đen nhiều hơn…

Mặc dù quê hương của người Mông ở những bản làng xa xôi tận biên giới phía Bắc, khi di cư vào canh tác trên đất đỏ của rừng Tây Nguyên nhiều gia đình dân tộc Mông đã bắt đầu an cư và lạc nghiệp.Một trong những công việc giúp họ có cuộc sống ổn định hơn chính là chăm sóc và trồng cà phê. Những cô gái Mông hàng ngày cùng nhau chăm sóc, bẻ chồi, cắt cành cho cây cà phê, còn những chàng trai Mông đảm nhiệm vai trò đào bồn, làm cỏ, bón phân cho cây để cây cà phê thêm tươi tốt. Cứ thế công việc của họ mỗi ngày đều gắn liền với vườn cà phê, với những cây cà phê xanh mướt và những hạt cà phê chín đỏ. Tuy vậy, nét văn hóa truyền thống của tộc người thì họ không thể quên.

Người Mông có nét văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc, nổi bật trong số đó là nghệ thuật tạo hình trên nền trang phục luôn được người Mông lưu giữ, bảo tồn và phát huy. Tuy nhiên cùng với cuộc sống hiện đại việc trồng cây lanh đã dần dần không còn mà thay vào đó người phụ nữ Mông đã biết mua những miếng vải dệt sẵn ở chợ về để thêu váy. Hoa văn trong trang phục của người Mông chủ yếu là hoa văn hình học. Những họa tiết này biểu hiện cho sự biến chuyển của mặt trời, thời tiết, không gian và thời gian, là vốn văn hóa chung của nhiều dân tộc, nhưng được thể hiện đậm đà trong trang trí của người Mông.

Phụ nữ Mông chính là tác giả của nghệ thuật tạo hình trên nền trang phục vì cả cuộc đời họ đều gắn bó với công việc thêu hoa văn, may vá trong gia đình. Khi thêu, trí tưởng tượng của người phụ nữ Mông khá phong phú, họ không có hình mẫu mà vẫn thêu được những họa tiết đẹp. Đặc biệt là kỹ thuật ghép vải để tạo hoa văn của người Mông khá độc đáo, hấp dẫn, tạo những khoang màu khác nhau. Khi thêu, người phụ nữ mông thường tính toán tỉ mỉ từng đường kim mũi chỉ, kích thước trên toàn bộ hoa văn trong mảnh vải, vì chỉ cần nhầm một mũi kim là lại phải gỡ ra làm lại. Và những bộ trang phục đậm sắc màu thổ cẩm được hình thành theo năm tháng nhọc nhằn của người phụ nữ Mông. Trang phục truyền thống của phụ nữ Mông gồm áo xẻ ngực, váy, tấm vải che phía trước váy, tấm vải che phía sau váy, thắt lưng và xà cạp.
Với bàn tay khéo léo, óc sáng tạo và niềm đam mê, những cô gái dân tộc Mông ở Tây Nguyên đã làm nên những sản phẩm độc đáo, như thể hiện ý nguyện vượt lên sắc màu của thiên nhiên, để tôn vinh và khẳng định vẻ đẹp của con người. Với sự cần cù và trí tưởng tượng phong phú, người phụ nữ Mông đã trở thành người nghệ sĩ tạo nên những tác phẩm nghệ thuật làm say đắm lòng người.

Nổi bật là nghệ thuật tạo hình trên nền trang phục được người Mông Hoa lưu giữ, bảo tồn, phát huy. Sự tài tình của người Mông chính là họ có thể làm ra những bộ trang phục của dân tộc mình bằng chính nguyên liệu thiên nhiên là cây lanh. Trồng cây lanh dệt vải để làm ra trang phục là công việc hết sức vất vả và cầu kỳ, nó đòi hỏi sự khéo léo và kiên trì của những phụ nữ Mông. Người Mông rất ưa chuộng vải lanh bởi nó có độ bền cao. Bó lanh cắt về được phơi nắng khoảng một tuần rồi tước sợi. Sau đó đưa vào cối giã mềm rồi nối lại. Lanh cuốn thành từng cuộn tròn và mang đi giặt, luộc cho tới khi sợi lanh mềm và trắng thì mang phơi rồi dùng guồng chia sợi trước khi mắc vào khung cửi để dệt nên những tấm vải thật đẹp.

Phụ nữ Mông rất chịu khó, bất cứ ở đâu, trong những phiên chợ đông đúc hay khi đi trên đường, lúc nào người phụ nữ Mông cũng luôn tay se lanh, nối lanh. Đây là công việc không những để thể hiện sự khéo tay, chăm chỉ mà còn là tiêu chí đánh giá tài năng, đạo đức, phẩm chất và cách làm ăn của phụ nữ Mông. Không những thế, người phụ nữ khi đã làm mẹ còn có nghĩa vụ dạy bảo con gái trồng lanh và làm thổ cẩm. Trẻ em người Mông được hướng dẫn làm công việc này từ khi còn rất nhỏ.

Với người Mông Hoa, sau khi đã dệt thành vải thì họ sẽ vẽ sáp ong lên vải trắng những đường hoa văn hình học theo ý muốn sau đó mới đem nhuộm chàm. Người phụ nữ kết hợp cả ba kỹ thuật là thêu, vẽ sáp ong và chắp vải để tạo nên những họa tiết trên nền y phục. Họ thêu hoa văn không cần mẫu, chỉ dùng để thêu thường là sợi tơ tằm có độ bền cao và giữ được màu.

 

skype