Category: Uncategorized

 

Đây là một trong những phong cách thưởng lãm của nền Văn minh cà phê Roman

Trong lĩnh vực Thưởng thức và Tận hưởng cà phê được khởi xướng sau cuộc đại Cách mạng Pháp lật đổ chế độ phong kiến năm 1789. Biểu trưng cho nước Pháp thời kỳ ấy là thủ đô Paris với những quán cà phê mang phong cách lịch thiệp, sang trọng và nhất được mệnh danh French Class (Đẳng cấp Pháp).

Điều này được thể hiện  thông qua sự dịch chuyển của không gian và địa thế của những nơi đặt định các quán cà  phê nổi tiếng tại Paris từ cuối thế kỉ XVIII đến nửa cuối thế kỉ XX, là sự phát triển của các thể loại quán cà phê liên quan đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như: văn học, nghệ thuật, chính trị, xã hội…Có thể nói rằng, các quán cà phê là một phần bản chất của Paris.

“Quán cà phê Paris” —nếu có hai từ gợi lên ý tưởng, hình ảnh hoặc bản chất của lối sống Pháp, thì đó chính là những từ này. Khái niệm về xã hội quán cà phê có từ giữa thế kỷ 19 và được tiên phong ở Paris, một thành phố nơi xã hội hóa, tranh luận và vui vẻ được coi là de rigueur (tạm dịch là Sự nghiêm khắc). Quán cà phê đầu tiên ở Pháp là Le Procope nằm ở tả ngạn, được mở vào năm 1686 như một nơi gặp gỡ trao đổi giữa các tầng lớp văn minh bao gồm Rousseau, Diderot và Voltaire (Napoléon cũng là một vị khách thường xuyên). Có một thời gian người ta thấy tư duy tốt nhất về nước Pháp, trong nghệ thuật và chính trị, đa số được phát ra từ các quán cà phê. Và những ý tưởng, xu hướng và chủ đề xuất hiện từ những mạng lưới không gian mở này đã giúp hình thành nhịp sống của Kinh đô hoa lệ.

Tất nhiên, đó là mấy mươi năm trước, còn ngày nay lối sống hiện đại đã thay đổi rất nhiều, vậy danh xưng Đẳng cấp Pháp (French Class) hiện nay như thế nào? Ngày nay, được mệnh danh là Kinh đô Ánh sáng, Kinh đô Thời trang, nhưng không chỉ vậy. Pháp và Paris vẫn nổi tiếng với nền ẩm thực đặc biệt trên toàn thế giới với những nhà hàng sang trọng và nổi tiếng, những đầu bếp giỏi, danh tiếng trên toàn thế giới và những người sẽ biết cách làm hài lòng vị giác của bạn với những thực đơn tinh tế, đó là những tác phẩm nghệ thuật thực sự được tạo ra nhờ trí tưởng tượng và tài năng của họ. Cổ điển và hiện đại, những hàng quán ở đây vẫn mang phong cách Đẳng cấp Pháp (French Class), nhưng với những nét hiện đại sẽ làm thăng hoa sự thưởng lãm của thực khách mà chất lượng vẫn luôn đảm bảo sự hài lòng của người thưởng lãm.

Dân tộc Êđê còn được gọi với nhiều tên khác như: Êgar, Ra Đê, Đê, Anăk Ea Đê…, họ cư trú chủ yếu ở tỉnh Đắk Lắk, một bộ phận ở Phú Yên, Đắk Nông… Theo số liệu Tổng điều tra dân số các dân tộc năm 2009, người Êđê ở Tây Nguyên có dân số là 304.794 người.
Êđê là một trong số ít các dân tộc Việt Nam theo mẫu hệ: người phụ nữ là chủ trong gia đình, con cái sinh ra mang họ mẹ, phụ nữ cưới chồng, đàn ông ở rể…

Người Êđê theo nghĩa của tiếng Êđê là “Những đứa con của Thần linh”, là dân tộc đã định cư lâu đời bậc nhất trên vùng đất đỏ bazan, họ cư trú chủ yếu ở tỉnh Đắk Lắk. Trong hơn 100 năm qua, người dân Êđê đã gắn bó mật thiết với cây cà phê. Họ là những người trồng các loại cây cà phê vối (Robusta) là chính, nhưng mỗi gia đình Êđê cũng thường trồng riêng thêm một số ít cây cà phê chè (Arabica) và cà phê mít (Chari, Liberia) để mỗi khi có khách quý đến thăm hoặc vào dịp ngày lễ trọng đại, họ sẽ mang loại cà phê “báu vật” ra pha chế để mọi người cùng thưởng thức.

Người Êđê có nhiều nhóm địa phương khác nhau, nhưng trang phục & trang sức đa số đều giống nhau về hình thức, mang những nét chung của nhiều cư dân vùng Trường Sơn – Tây Nguyên.

Theo truyền thống, trang phục của người dân Êđê là màu đen hoặc màu chàm, trên đó có những họa tiết hoa văn sặc sỡ. Phần lớn, đàn bà đều mặc váy, quấn váy, đàn ông đóng khố và mặc áo dài quá mông. Nam, nữ đều thích mang nhiều trang sức như đồng, bạc, hạt cườm…
Chiếc váy cổ truyền của người phụ nữ Êđê gọi là m’yêng. Đó là loại váy mở, màu đen đậm, quấn quanh thân, khi mặc váy phủ kín đến mắt cá chân. Chạy dọc phía dưới chân váy là những hoa văn hình hạt thóc, hạt bắp và đường kỷ hà… màu sắc thường là đỏ, kết hợp với màu vàng, màu trắng trông rực rỡ nhưng kín đáo. Căn cứ vào chất lượng sợi vải và hoa văn trên váy, người Êđê có nhiều tên gọi khác nhau cho từng loại váy: m’yêng đêch, m’yêng drai, m’yêng kdruêch piêk, m’yêng mut; trong đó m’yêng đêch là quý hơn cả (trước đây trị giá từ hai đến ba con trâu). Đó là những chiếc váy đẹp mà phụ nữ Êđê thường mặc trong những dịp lễ lớn của cộng đồng. Áo chui đầu truyền thống được gọi là ao đêch của phụ nữ Êđê được dệt các đường hoa văn ngang dọc ở vai, nách, cổ tay và phần gấu áo giống như hoa văn ở váy. Đặc biệt, áo thường được dệt màu đỏ pha màu vàng, xanh nổi bật trên nền đen của thân áo. Áo mặc bình thường được khoét cổ thấp bằng vai, kín tà, hai vạt trước và sau bằng nhau. Áo mặc trong dịp lễ hội được mở ở hai vai và đơm một hàng ktem bằng bạc với những tua chỉ màu đính vào vai áo, phía dưới nách có đính sợi dây đeo những quả chuông nhỏ… Phụ nữ Êđê xưa thường búi tóc ở đằng sau gáy, cài trâm bằng đồng hoặc ngà voi. Trâm có loại thẳng, có loại hình chữ U. Phụ nữ Êđê có hai kiểu chít khăn: kiểu chít khăn ra đằng sau gáy, kiểu chít khăn ra trước trán vận chéo hình chữ nhân. Các bà, các chị thường đeo vòng bạc hoặc chuỗi hạt trong những dịp lễ hội của cộng đồng, tạo nét đẹp duyên dáng, kín đáo.

Đàn ông Êđê thường có tập quán mang khố (kpin). Khố màu đen được dệt bằng sợi bông xe săn. Trên mặt khố có nhiều đường hoa văn chạy dọc theo hai bên mép vải, ở hai đầu khố có tua dài khoảng 25 cm. Người Êđê căn cứ vào dải hoa văn trên khố mà đặt tên cho từng loại khố: kpin ktek, kpin drai, kpin mlang, trong đó trị giá nhất là khố ktek, khố drai (xưa kia mỗi cái trị giá từ hai đến ba con trâu). Áo của đàn ông Êđê là áo dài tay, chui đầu, cổ áo hình chữ V. Đây là loại áo lửng che kín mông, buông dài đến điểm giữa đùi và đầu gối, thân sau dài hơn thân trước. Áo cánh của đàn ông Êđê thường mặc trong các dịp lễ hội được trang trí cầu kỳ hơn. Loại áo này giữa ngực được mở ra một khoảng dài từ 10-15cm, có đính hàng khuy đồng, khuyết khuy áo được bện bằng chỉ đỏ. Hai mảng ngực áo được trang trí bằng hai mảng hoa văn màu đỏ rực hình cánh chim đại bàng, tượng trưng cho khí phách và khát vọng chinh phục thiên nhiên của người Êđê. Gấu áo được viền chỉ màu đính cườm trắng và tua chỉ màu đỏ dài khoảng một gang tay. Áo này có tên gọi là ao đêch kwưh grưh, thường được mặc trong dịp lễ hội, cưới hỏi, mừng nhà mới… Mùa lạnh, đàn ông Êđê thường khoác thêm chiếc mền (a băn) dệt bằng sợi bông, màu chàm, có trang trí hoa văn ở hai đầu (giống hoa văn ở khố). Đàn ông Êđê thường đeo vòng đồng ở cổ tay, khi có lễ hội của cộng đồng. Người cao tuổi của những gia đình khá giả thường đeo chuỗi hạt ở cổ và ngà voi ở tai, thể hiện vẻ đẹp quyền quý. Khi ra khỏi nhà, dự lễ hội, hay đi thăm bà con ở buôn xa, họ thường đeo gùi, ngậm tẩu, đó cũng là cách làm nổi bật bộ trang phục cổ truyền.

Ngày nay, do ảnh hưởng của cuộc sống đương đại, trang phục, trang sức truyền thống của người Êđê tuy có phần bị mai một, nhưng chúng ta vẫn gặp những bộ trang phục, trang sức này của các amí, ama trong các dịp lễ hội truyền thống của cộng đồng dân tộc Êđê, nhất là mỗi khi đến thăm gia đình họ để thưởng lãm những ly cà phê đặc biệt giữa vùng đất đại ngàn. Nó thể hiện bản sắc độc đáo của đồng bào Êđê, cần được gìn giữ, phát huy trong thời kỳ hội nhập.

 

Chiêng (HVK532)

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình văn hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên: Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai… Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên, là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ. Cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc từ truyền thống văn hóa và lịch sử rất lâu đời. Về cội nguồn, có nhà nghiên cứu cho rằng, cồng chiêng là “hậu duệ” của đàn đá. trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá: cồng đá, chiêng đá… tre, rồi tới thời đại đồ đồng, mới có chiêng đồng… Từ thuở sơ khai, cồng chiêng được đánh lên để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu hiện của tín ngưỡng – là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên… âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng người, sống mãi cùng với đất trời và con người Tây Nguyên. Tất cả các lễ hội trong năm, từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâm trâu.. . hay trong một buổi nghe khan… đều phải có tiếng cồng. Tiếng chiêng dài hơn đời người, tiếng chiêng nối liền, kết dính những thế hệ. Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng, chiêng đều ẩn chứa một vị thần. Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Cồng chiêng còn là tài sản quý giá, biểu tượng cho quyền lực và sự giàu có. Đã có thời một chiếc chiêng giá trị bằng hai con voi hoặc 20 con trâu. Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian lãng mạn và huyền ảo. Cồng chiêng do vậy góp phần tạo nên những sử thi, những áng thơ ca đậm chất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùng tráng. Cồng chiêng đã đi vào sử thi Tây Nguyên như để khẳng định tính trường tồn của loại nhạc cụ này: “Hãy đánh những chiêng âm thanh nhất, những chiêng kêu trầm nhất. Đánh nhè nhẹ cho gió đưa xuống đất. Đánh cho tiếng chiêng vang xa khắp xứ. Đánh cho tiếng chiêng luồn qua sàn lan đi xa. Đánh cho tiếng chiêng vượt qua nhà vọng lên trời. Đánh cho khỉ trên cây cũng quên bám chặt vào cành đến phải ngã xuống đất. Đánh cho ma quỷ mê mải nghe đến quên làm hại con người. Đánh cho chuột sóc quên đào hang, cho rắn nằm ngay đơ, cho thỏ phải giật mình, cho hươu nai đứng nghe quên ăn cỏ, cho tất cả chỉ còn lắng nghe tiếng chiêng của Đam San…”.Tồn tại trên mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ đã hàng ngàn đời nay, nghệ thuật cồng chiêng ở đây đã phát triển đến một trình độ cao. Cồng chiêng Tây Nguyên rất đa dạng, phong phú. Hiện nay, tại hầu hết các buôn làng Tây Nguyên đều có những đội cồng chiêng phục vụ đồng bào trong sinh hoạt cộng đồng, trong dịp hội hè. Vào ngày lễ tết, hình ảnh quen thuộc ””bên ngọn lửa thiêng, những vòng người say sưa múa hát trong tiếng cồng chiêng vang động núi rừng”” lại xuất hiện trên khắp các buôn làng. Các nghệ nhân dân gian diễn tấu cồng chiêng kết hợp với nhau rất hài hòa, tạo nên những bản nhạc với các tiết tấu, hòa thanh rất phong phú, mang sắc thái riêng với muôn vàn cung bậc. Mỗi dân tộc đều có những bản nhạc cồng chiêng riêng để diễn tả vẻ đẹp thiên nhiên, khát vọng của con người… Người Giarai có các bài chiêng Juan, Trum vang… Người Bana có các bài chiêng: Xa Trăng, Sakapo, Atâu, Tơrơi…  Âm thanh của cồng chiêng còn là chất men lôi cuốn gái trai vào những điệu múa hào hứng của cả cộng đồng trong những ngày hội của buôn làng. Đây là sinh hoạt văn hóa dân gian nổi bật nhất ở nhiều dân tộc Tây Nguyên.

Chiêng (HVK531)

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình văn hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên: Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai… Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên, là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ. Cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc từ truyền thống văn hóa và lịch sử rất lâu đời. Về cội nguồn, có nhà nghiên cứu cho rằng, cồng chiêng là “hậu duệ” của đàn đá. trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá: cồng đá, chiêng đá… tre, rồi tới thời đại đồ đồng, mới có chiêng đồng… Từ thuở sơ khai, cồng chiêng được đánh lên để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu hiện của tín ngưỡng – là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên… âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng người, sống mãi cùng với đất trời và con người Tây Nguyên. Tất cả các lễ hội trong năm, từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâm trâu.. . hay trong một buổi nghe khan… đều phải có tiếng cồng. Tiếng chiêng dài hơn đời người, tiếng chiêng nối liền, kết dính những thế hệ. Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng, chiêng đều ẩn chứa một vị thần. Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Cồng chiêng còn là tài sản quý giá, biểu tượng cho quyền lực và sự giàu có. Đã có thời một chiếc chiêng giá trị bằng hai con voi hoặc 20 con trâu. Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian lãng mạn và huyền ảo. Cồng chiêng do vậy góp phần tạo nên những sử thi, những áng thơ ca đậm chất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùng tráng. Cồng chiêng đã đi vào sử thi Tây Nguyên như để khẳng định tính trường tồn của loại nhạc cụ này: “Hãy đánh những chiêng âm thanh nhất, những chiêng kêu trầm nhất. Đánh nhè nhẹ cho gió đưa xuống đất. Đánh cho tiếng chiêng vang xa khắp xứ. Đánh cho tiếng chiêng luồn qua sàn lan đi xa. Đánh cho tiếng chiêng vượt qua nhà vọng lên trời. Đánh cho khỉ trên cây cũng quên bám chặt vào cành đến phải ngã xuống đất. Đánh cho ma quỷ mê mải nghe đến quên làm hại con người. Đánh cho chuột sóc quên đào hang, cho rắn nằm ngay đơ, cho thỏ phải giật mình, cho hươu nai đứng nghe quên ăn cỏ, cho tất cả chỉ còn lắng nghe tiếng chiêng của Đam San…”.Tồn tại trên mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ đã hàng ngàn đời nay, nghệ thuật cồng chiêng ở đây đã phát triển đến một trình độ cao. Cồng chiêng Tây Nguyên rất đa dạng, phong phú. Hiện nay, tại hầu hết các buôn làng Tây Nguyên đều có những đội cồng chiêng phục vụ đồng bào trong sinh hoạt cộng đồng, trong dịp hội hè. Vào ngày lễ tết, hình ảnh quen thuộc ””bên ngọn lửa thiêng, những vòng người say sưa múa hát trong tiếng cồng chiêng vang động núi rừng”” lại xuất hiện trên khắp các buôn làng. Các nghệ nhân dân gian diễn tấu cồng chiêng kết hợp với nhau rất hài hòa, tạo nên những bản nhạc với các tiết tấu, hòa thanh rất phong phú, mang sắc thái riêng với muôn vàn cung bậc. Mỗi dân tộc đều có những bản nhạc cồng chiêng riêng để diễn tả vẻ đẹp thiên nhiên, khát vọng của con người… Người Giarai có các bài chiêng Juan, Trum vang… Người Bana có các bài chiêng: Xa Trăng, Sakapo, Atâu, Tơrơi…  Âm thanh của cồng chiêng còn là chất men lôi cuốn gái trai vào những điệu múa hào hứng của cả cộng đồng trong những ngày hội của buôn làng. Đây là sinh hoạt văn hóa dân gian nổi bật nhất ở nhiều dân tộc Tây Nguyên.

Ấm chứa cà phê

Đây là chiếc ấm chứa cà phê bằng gốm, bụng ấm tròn nhiều hoa văn màu xanh dương, đế ấm bằng gỗ màu đen làm bệ đặt chắc chắn để chiếc ấm nương tựa, hai bên ấm có hai núm cầm cách nhiệt, eo thắt lại ở giữa cổ ấm, nắp ấm liền hình tròn có núm tròn màu xanh, mỏ rót của ấm dạng ống dôi về phía trước, tay cầm của ấm cong dính sát thân ấm tạo nên một sự kết nối vững chắc khi nhìn vào chiếc ấm, giúp việc thưởng thức cà phê thêm ngon hơn.

Xe bò vận chuyển cà phê hạt

Oxcart truyền thống, hay carreta, là sản phẩm của nghề thủ công nổi tiếng nhất của Costa Rica. Có niên đại từ giữa thế kỷ XIX, oxcarts đã được sử dụng để vận chuyển hạt cà phê từ thung lũng trung tâm của Costa Rica trên các ngọn núi đến Puntarenas trên bờ biển Thái Bình Dương, một hành trình cần từ mười đến mười lăm ngày.

Các oxcarts đã sử dụng các bánh xe không có nan hoa, một sản phẩm phối hợp giữa đĩa được sử dụng bởi người Aztec và bánh xe được giới thiệu bởi người Tây Ban Nha, để đi ngang qua bùn mà không bị kẹt. Trong nhiều trường hợp, oxcarts là phương tiện di chuyển duy nhất của gia đình, nó còn như một biểu tượng về địa vị xã hội của họ.

Truyền thống vẽ tranh và trang trí oxcarts bắt đầu từ đầu thế kỷ XX. Ban đầu, mỗi khu vực của Costa Rica có thiết kế riêng, cho phép xác định nguồn gốc của người chủ xe bằng các hoa văn được sơn trên các bánh xe. Vào đầu thế kỷ XX, các họa tiết như: hoa, khuôn mặt và phong cảnh thu nhỏ bắt đầu xuất hiện bên cạnh các mô hình ngôi sao nhọn, và cho đến ngày nay, hàng năm đều có các cuộc thi thưởng cho các nghệ sĩ sáng tạo nhất trong truyền thống này. Mỗi chiếc xe bò được thiết kế để tạo ra “bài hát” của riêng mình, một tiếng chuông độc đáo được tạo ra bởi một vòng kim loại nổi bật trên trục bánh xe khi chiếc xe đẩy đi dọc. Một khi oxcart đã trở thành một nguồn tự hào cá nhân, sự chăm sóc tốt hơn đã được thực hiện và các loại gỗ chất lượng cao nhất đã được chọn để tạo ra âm thanh tốt nhất. Carretas đầy màu sắc và được trang trí phong phú ngày nay có chút giống với những chiếc xe thô sơ, hình chữ nhật, có thể được bao phủ bởi những tấm vải thô. Trong khi hầu hết các khu vực ở Costa Rica, xe tải và xe lửa là phương tiện giao thông chính đã thay thế cho xe bò, thì carretas vẫn là biểu tượng mạnh mẽ của quá khứ nông thôn của Costa Rica,

Kể từ khi oxcarts trở nên lỗi thời như một phương tiện giao thông, nhu cầu về chúng ngày càng giảm, điều đó có nghĩa là số lượng nghệ nhân sở hữu đào tạo để sản xuất và trang trí oxcarts đã giảm mạnh trong những thập kỷ qua.

Oxcarts nằm trong Danh sách đại diện của Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, được công bố vào năm 2005.

Chiếc xe vận chuyển cà phê của Coxta Rica được làm từ gỗ màu cánh gián, có bánh xe tròn và có thể kéo đi được. Thùng xe có nắp 2 ngăn, phía trước của chiếc xe vận chuyển cà phê có thanh gỗ dài dùng để kéo.

“Không có cà phê, chính trị mất vị, chỉ có mùi”

“Sans café, la politique sent car elle perd son essence”
(Napoléon Bonaparte)

Đen tối như ác quỷ, nóng bỏng như địa ngục, trong lành như thiên thần, ngọt ngào như tình yêu”.
“Black as the devil, hot as hell, pure as an angel, sweet as love”

(Charles Maurice de Talleyrand – Một nhà chính trị, một nhà ngoại giao, Thủ tướng đầu tiên của Pháp giai đoạn cận hiện đại)

 

Để tạo nên một sản phẩm cà phê tuyệt hảo, một tách cà phê cuộc đời. Ngoài các công đoạn trồng trọt, chăm sóc, thu hoạch thì giai đoạn chế biến sẽ quyết định chất lượng và tinh thần của cà phê. Sau khi cà phê được thu hoạch, trước khi được bán, cà phê thường được chế biến thô bằng hai phương pháp đó là chế biến khô và phương pháp chế biến ướt.

Phương pháp chế biến khô (Dry): Cà phê sau khi hái được đem đi phơi hoặc sấy khô. Thời gian phơi ngoài trời thường khoảng 1 tuần tùy theo thời tiết nhưng chung quy khi độ ẩm còn khoảng 12% là có thể kết thúc quá trình phơi. Khi khô, lớp vỏ cứng bên ngoài sẽ được xay ra, để lại nhân cà phê cho chế biến rang và xay.

Phương pháp chế biến ướt (Wash): Cà phê sau khi thu hoạch phân loại ra trái chín và chưa chín. Trái chín được đem đi xát vỏ lấy phần nhân rồi ủ lên men từ 12 – 36h. Sau khi lên men, cà phê nhân được đem đi rửa sạch lớp nhầy bên ngoài trước khi phơi hoặc sấy khô đến độ ẩm đạt 12% thì kết thúc.

Nghệ thuật tinh tế và sáng tạo PHỐI TRỘN CÀ PHÊ (Blend)

“Người pha chế cà phê – Barista, vừa là một chuyên gia, một triết gia, một nghệ sỹ, một bác sỹ và là một bậc thầy phù thủy về phối trộn hương vị”

(Chủ tịch Đặng Lê Nguyên Vũ – Người sáng lập Tập đoàn Trung Nguyên Legend)

Tại Trung Nguyên, quan niệm về cà phê đó là cà CÀ PHÊ NĂNG LƯỢNG, cà phê năng lượng được tạo bởi 3 yếu tố: Vật lý, Tâm ý và Thiên ý.

Vật lý: Để tạo ra một sản phẩm, một tách cà phê ngon tuyệt hảo thì cần lựa chọn nguyên liệu tốt nhất và sử dụng công nghệ tốt nhất.

Tâm ý: Nước cũng có tâm hồn, trong chứng minh khoa học của tiến sỹ Masaru Emoto. Cà phê từ lúc trồng, chăm sóc, thu hoạch, chế biến và thưởng lãm, những con người của Trung Nguyên để đặt cả tâm hồn và tình cảm của mình với tâm niệm thiện lành, yêu thương đến khách hàng và người thưởng thức.

Thiên ý: “Cà phê là báu vật của trời đất”. Không phải bất cứ nơi nào trên trái đất cũng có cây phê, cà phê sống chủ yếu nằm song song hai bên đường xích đạo – nơi hội tụ cả hai yếu tố cân bằng của thế giới là Âm và Dương cũng như cộng hưởng, liên thông và thống nhất, tương tác và cộng tồn của các yếu tố thiên thời.

“Mùa thu hoạch – mùa của Lễ hội”

Trước thế kỷ 16, ở châu Âu, thu hoạch là thuật ngữ thường được sử dụng để chỉ mùa thu, nó xuất phát từ một tên tiếng Anh “hærfest” có nghĩa là mùa thu (từ “Herbst” từ tiếng Đức cũng có cùng một nguồn gốc và vẫn còn có nghĩa là mùa thu), nó có nguồn gốc Ấn-Âu “kerp” có nghĩa là để thu thập, hái lượm, nhổ, gặt… So với từ “carpere” động từ tiếng Latinh có nghĩa là để cắt, phân chia, nhổ. Vì vậy, từ hærfest ban đầu chỉ về các lễ kỷ niệm vui vẻ và cuối cùng là có nghĩa có thể thu thập các loại cây trồng đã trưởng thành, sau đó nó mở rộng ý nghĩa thành thời kỳ thu hoạch (thường là vào mùa thu).

Trong tiếng Việt, từ thu hoạch có gốc từ chữ Hán: 收割 gồm hai từ thu: có nghĩa là lấy, gom góp và hoạch: quây lại, để chỉ về quá trình thu gom, tập hợp.

Tại các quốc gia Âu Mỹ, mùa thu cũng là mùa thu hoạch chính và có các lễ hội mừng được mùa. Lễ hội thu hoạch truyền thống tại Anh được tổ chức vào ngày chủ nhật gần “Mùa trăng thu hoạch” (Harvest Moon), đó là ngày trăng tròn xảy ra gần điểm thu phân (22 hoặc 23 tháng 9), tại Hoa Kỳ và Canada là vào tháng 10 hay tháng 11 vào ngày lễ tạ ơn. Đó cũng là lý do hầu hết những lễ hội của các dân tộc thường diễn ra vào mùa xuân và mùa thu, hai mùa đẹp nhất trong năm, khi mùa thu hoạch kết thúc, người nông dân có thời gian nhàn rỗi.

Với cây cà phê mùa vụ thu hoạch phần lớn phụ thuộc vùng sinh thái – điều kiện địa hình, thổ nhưỡng và khí hậu, cùng giống – loài cà phê và việc chăm sóc vườn của từng vùng miền. Ở những vùng lạnh, vùng cao, cà phê chín muộn hơn vùng thấp, nóng. Cà phê chè chín sớm nhất sau đó đến cà phê vối.Cà phê mít chin muộn nhất. Với cà phê vối cũng có giống chín sớm, có giống chín muộn. Ví như tại Colombia mùa thu hoạch là tháng 5 đến tháng 7 và từ tháng 10 đến đầu mùa xuân năm sau, hay Ethiopia và Kenya bắt đầu vào mùa thu hoạch từ tháng 11 năm này đến mùa xuân tháng 2 năm sau, dài hơn hết là tại El Salvador; Guatemala; Honduras; Nicaragua mùa thu hoạch từ tháng 11 năm nay đến hết tháng 3 năm sau và tại Brazil mùa thu hoạch bắt đầu từ tháng 6 đến hết tháng 10 trong năm.

Cà phê Arabica thường chín sớm hơn so với Robusta, khoảng tháng 9-10 trong năm. Với những vùng có khí hậu mát thì cà phê Arabica chín muộn hơn. Cà phê Robusta chín vào tháng 10-12 trong năm. Khi cà phê trên cây chín đạt tỷ lệ khoảng 90 – 95% thì bắt đầu thu hoạch.

Tại Việt Nam, khi tới tháng 9, 10 Âm lịch, khắp miền đất đỏ bazan lại rộn ràng mùa cà phê chín mọng sau một năm chăm sóc vất vả. Khắp nơi Tây Nguyên, không khí rộn ràng từ nương rẫy lan tỏa đến từng ngả đường, từng khoảng sân phơi rực sáng một màu đỏ, đâu đó vang xa những tiếng cười nói, gọi nhau ý ới, văng vẳng là những tiếng hát – hoan ca với tình yêu cà phê, thiên nhiên đất trời cho mùa màng tốt tươi. Như một sự khích lệ tự thưởng cho bản thân sau một năm vất vả chăm bón, người nông dân thường giữ lại chút cà phê trong nhà như món quà khi kết thúc mùa vụ.

 

Tuy nhiên  để có được những ly cà phê tuyệt hảo chiết xuất từ những hạt cà phê chất lượng tuyệt đỉnh, mang giá trị kinh tế lợi nhuận cao, các nhà vườn sẽ chọn cách thu hoạch bằng tay, hái chọn nhiều lần từng quả cà phê chín theo cách chọn lọc thay cho hình thức tuốt nhiều lần, chỉ hái ở những cành mang nhiều quả chín hoặc tuốt một lần tất cả các cành có quả. Khi thu hoạch bằng tay, việc chọn hái các quả chín thực hiện bằng cách nhìn màu sắc. Quả chín thường có màu đỏ hoặc vàng, các quả chưa chín thì có màu xanh, trong khi các quá chín nẫu thường có màu đỏ sẫm đến đen hoàn toàn.Hiện nay, có 3 cách thu hoạch cà phê bằng tay gồm hai hình thức và bằng máy. Thu hoạch bằng máy thường hay sử dụng ở các nông trại cà phê có quy mô lớn. Khi thu hoạch bằng máy thì quan sát mức độ chín trên cây tới tỷ lệ chín cần thu hoạch thì tiến hành hái tất cả nhánh, cây cùng 1 lần. Cách hái này thường lẫn với những hạt chưa chín. Trong trường hợp thu hoạch bằng máy, nguyên tắc thu hoạch của đa số máy là sự rung. Do quả xanh thường bám vào cành chặt hơn quả chín nên việc hái chọn lựa được nhiều quả chín hay không là tuỳ thuộc vào sự điều chỉnh tần số rung của máy.

Đối với phương thức tuốt cành thực hiện bằng cách tuốt quả (toàn bộ hoặc lựa chọn) xuống các tấm bạt nhựa trải dưới tán cây. Nếu quả được tuốt rơi xuống đất và sau đó thu gom thì chất lượng có nguy cơ bị ảnh hưởng nhiều đến chất lượng do có lẫn nhiều tạp chất; đồng thời sẽ tốn công để tách bỏ tạp chất sau khi hái.

Trong khi đó, với việc thu hoạch hái tuốt một lần cả vườn, tuy lý tưởng nhất là đợi cho tới khi tỉ lệ quả xanh ở trên vườn chỉ còn dưới 5%. Nhưng nếu chọn cách này thì rất nhiều quả đã chín và khô trên cây sẽ bắt đầu rụng xuống đất và sự giảm chất lượng từ các quả khô rụng dù được bù đắp bằng sự già chín của các quả xanh (hạt trong các quả xanh cuối vụ thường đã già chín về mặt sinh lý nên vẫn cho chất lượng tốt không thua kém hạt trong quả chín đầu vụ).

Các bước để trồng cà phê không đơn giản mà nó đòi hỏi chúng ta phải có những kỹ thuật đúng chuẩn với chuyên để tạo ra nguyên liệu tuyệt hảo đầy năng lượng. Để có được cây cà phê đạt yêu cầu, cho năng suất cao các bước trồng cần được thực hiện các bước sau:

Đất phẳng được dọn sạch tàn dư thực vật, đào mương thoát nước theo sơ đồ thiết kế vườn cà phê như sau:

Chọn giống: 4/55, 1/20, TR4, TR5, TR6, TR7, TR8, TR9, TR11, TR12, TR13 đều sinh trưởng tốt, phân cành nhiều, cho năng suất từ 4,5 đến 7 tấn cà phê nhân/ha.

Thời vụ:  Trồng vào đầu mùa mưa (tháng 5, tháng 6).

 Khoảng cách, mật độ: Đất tốt, điều kiện thâm canh cao thì trồng thưa và ngược lại. Khoảng cách: đất tốt và bằng phẳng 3 x 3 m (1.118 cây/ha); đất trung bình và dốc 3 x 2.5 m (1.330 cây/ha).

Cách trồng: Cây cà phê không đòi hỏi khắt khe về đất, nó có thể phát triển tốt trên nhiều loại đất khác nhau như: Đất nâu đỏ, nâu vàng hoặc đất xám …. Trong đó, đất đỏ bazan cây cà phê sinh trưởng tốt, cho năng suất cao. Yêu cầu cơ bản là có tầng đất mặt sâu từ 70 cm trở lên, có thành phần cơ giới trung bình đến hơi nặng (Đất thịt nhẹ- sét)

Đào hố trước khi trồng 1 tháng, hố có kích thước 60 x 60 x60 cm. Lớp đất mặt để một phía, sau đó trộn với 10 – 20 kg phân chuồng hoai mục + 0,5 kg super lân + 0.5 kg vôi bột đưa xuống hố.

Lớp đất dưới để một phía sau dùng làm bồn quanh gốc. Lúc trồng bón lót ngoài tán lá cây 100 Gram phân NPK 16 – 16 – 8 – 13 S.

Kỹ thuật chăm sóc cà phê

Chăm sóc cà phê cần những yếu tố sau:

Trồng cây chắn gió cho cà phê

Cây trong giai đoạn kiến thiết, giai đoạn thu hoạch đều cần được chắn gió cẩn thận. Nên sử dụng cây muồng vàng làm cây chắn gió. Trồng vào giữa hàng cà phê, khoảng cách 2-3 hàng cà phê 1 hàng muồng vàng. Xác cây muồng vàng có thể tận dụng để ép xanh khi thay thế cây mới

Trồng cây che bóng cho cà phê

Có thể tận dụng các ngã tư giữa các bồn để trồng cây che bóng, khoảng cách 9 x 9m hoặc 9 x 12m. Trồng cùng thời điểm với cây cà phê con. Các cây che bóng có thể là bơ sáp, sầu riêng thái, cây trụ sống trồng tiêu, vừa có tác dụng che bóng vừa là cây xen canh có giá trị kinh tế, cải thiện thu nhập.

Cây che bóng cần rong tỉa cành hợp lý, không để quá rậm rạp. sao cho cây cà phê bên dưới có thể tiếp nhận được ánh sáng. Tán cây phải cách ngọn cà phê từ 2 – 4m.

Làm cỏ cho cà phê

Cà phê là cây có nhiều rễ con hấp thu dinh dưỡng tầng mặt, do đó cần làm cỏ thường xuyên, 1 năm 4-5 lần. Làm sạch cả trong bồn và trên thành bồn. Khi làm cỏ có thể kết hợp đánh bồn. Trước khi bón phân cũng cần làm cỏ sạch sẽ

Kỹ thuật làm bồn cà phê

Việc làm bồn giúp cho công tác tưới tiêu, bón phân dễ dàng và hiệu quả hơn. Thành bồn cần được nén chặt thành bờ, cao hơn mặt bồn bên trong 15 – 20cm. Mỗi năm đánh bồn 1 lần vào đầu mùa mưa, mở rộng bồn theo tán cây, đến khi giao nhau với các bồn của hàng bên cạnh thì ngưng.

Cắt tỉa cành tạo tán cây cà phê

Thường xuyên bẻ chồi vượt mọc từ thân chính và nách lá, đặc biệt là đầu mùa mưa, trước đợt bỏ phân. 1 năm có thể tiến hành làm chồi từ 5-6 lần. Sau khi thu hoạch, dùng kéo cắt bỏ cành tăm, cành nhỏ giáp thân, cành khô, cành bị sâu bệnh. Ở mỗi vị trí đốt cành chỉ để lại khoảng 3 cành dự trữ. Tỉa bớt các cành thứ cấp trên cao để ánh sáng có thể tiếp cận các cành bên dưới. Hãm ngọn ở độ cao 1,6 – 1,7m.

Đối với cà phê cưa đốn phục hồi: Tiến hành cưa vào khoảng tháng 2 DL, vị trí cưa cách mặt đất 20 – 25cm. Cưa vát 1 góc 45 độ. Nuôi 4-5 chồi khỏe mạnh nhất. Khi chồi cao 25cm, để lại 2 chồi để tạo thân và tiến hành chăm sóc, tạo hình như đối với cà trồng mới

 Phòng trừ sâu bệnh cho cà phê

Vào tháng 3-4 (xuân – hè) và tháng 10-11 (vụ thu đông). Những cây bị sâu nặng phải kịp thời cưa cắt kịp thời để kịp thời diệt nguồn sâu trưởng thành. Trồng cây bóng mát cho cà phê để hận chế sự tác hại của sâu.

Dùng Boremun 4% phun phủ kín lên thân cây từ ngọn đến gốc 1 năm 2 lần để diệt trừ trứng, sâu non và sâu trưởng thành ,Cắt bỏ  các chồi vượt, cành trong tán, cành tăm, cành thừa để tập trung dinh dưỡng nuôi trái. Tỉa những cành khô, già cỗi, cành bị sâu bệnh tạo cho vườn cây thông thoáng, cây sinh trưởng, phát triển tốt, tăng sức chống chịu sâu bệnh, hạn chế sự lây lan của các loại bệnh gây rụng trái. Vệ sinh gốc  Thường xuyên thu gom các cành, lá phát triển nguồn bệnh.

Kỹ thuật tưới nước: Tưới nước cho cây cà phê là biện pháp đòi hỏi đầu tư cao, chi phí lớn nên chỉ được thực hiện ở những vùng có mùa khô kéo dài từ 4 – 6 tháng trong  năm.

Dùng ống nhựa tưới trực tiếp vào gốc cà phê tưới vào mùa khô Phần lớn diện tích cà phê
trên thế giới không được tưới nước trong mùa khô.

Diện tích cà phê được tưới thường được tập trung vào cây cà phê vối, vốn có khả năng chịu hạn kém hơn cà phê chè.
Do điều kiện khí hậu ởTây Nguyên có mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 nămsau nên tưới nước trởthành một biệnpháp kỹ thuật có tính quyết định đến năng suất cà phê ở khu vực này. Nguyên liệu Cà phê Robusta tuyệt hảo đầy nặng lượng của đất đỏ bazan khẳng định vị trí hàng đầu của Ngành cà phê Việt Nam

 

 “Dù có phải xới tung trái đất này lên thì cũng phải làm để tạo nên những tuyệt phẩm cà phê ngon nhất”.

(CHỦ TỊCH ĐẶNG LÊ NGUYÊN VŨ -Nhà Sáng lập Tập đoàn Trung Nguyên Legend)

  • 1
  • 2