Category: Uncategorized

Dân tộc Êđê còn được gọi với nhiều tên khác như: Êgar, Ra Đê, Đê, Anăk Ea Đê…, họ cư trú chủ yếu ở tỉnh Đắk Lắk, một bộ phận ở Phú Yên, Đắk Nông… Theo số liệu Tổng điều tra dân số các dân tộc năm 2009, người Êđê ở Tây Nguyên có dân số là 304.794 người.
Êđê là một trong số ít các dân tộc Việt Nam theo mẫu hệ: người phụ nữ là chủ trong gia đình, con cái sinh ra mang họ mẹ, phụ nữ cưới chồng, đàn ông ở rể…

Người Êđê theo nghĩa của tiếng Êđê là “Những đứa con của Thần linh”, là dân tộc đã định cư lâu đời bậc nhất trên vùng đất đỏ bazan, họ cư trú chủ yếu ở tỉnh Đắk Lắk. Trong hơn 100 năm qua, người dân Êđê đã gắn bó mật thiết với cây cà phê. Họ là những người trồng các loại cây cà phê vối (Robusta) là chính, nhưng mỗi gia đình Êđê cũng thường trồng riêng thêm một số ít cây cà phê chè (Arabica) và cà phê mít (Chari, Liberia) để mỗi khi có khách quý đến thăm hoặc vào dịp ngày lễ trọng đại, họ sẽ mang loại cà phê “báu vật” ra pha chế để mọi người cùng thưởng thức.

Người Êđê có nhiều nhóm địa phương khác nhau, nhưng trang phục & trang sức đa số đều giống nhau về hình thức, mang những nét chung của nhiều cư dân vùng Trường Sơn – Tây Nguyên.

Theo truyền thống, trang phục của người dân Êđê là màu đen hoặc màu chàm, trên đó có những họa tiết hoa văn sặc sỡ. Phần lớn, đàn bà đều mặc váy, quấn váy, đàn ông đóng khố và mặc áo dài quá mông. Nam, nữ đều thích mang nhiều trang sức như đồng, bạc, hạt cườm…
Chiếc váy cổ truyền của người phụ nữ Êđê gọi là m’yêng. Đó là loại váy mở, màu đen đậm, quấn quanh thân, khi mặc váy phủ kín đến mắt cá chân. Chạy dọc phía dưới chân váy là những hoa văn hình hạt thóc, hạt bắp và đường kỷ hà… màu sắc thường là đỏ, kết hợp với màu vàng, màu trắng trông rực rỡ nhưng kín đáo. Căn cứ vào chất lượng sợi vải và hoa văn trên váy, người Êđê có nhiều tên gọi khác nhau cho từng loại váy: m’yêng đêch, m’yêng drai, m’yêng kdruêch piêk, m’yêng mut; trong đó m’yêng đêch là quý hơn cả (trước đây trị giá từ hai đến ba con trâu). Đó là những chiếc váy đẹp mà phụ nữ Êđê thường mặc trong những dịp lễ lớn của cộng đồng. Áo chui đầu truyền thống được gọi là ao đêch của phụ nữ Êđê được dệt các đường hoa văn ngang dọc ở vai, nách, cổ tay và phần gấu áo giống như hoa văn ở váy. Đặc biệt, áo thường được dệt màu đỏ pha màu vàng, xanh nổi bật trên nền đen của thân áo. Áo mặc bình thường được khoét cổ thấp bằng vai, kín tà, hai vạt trước và sau bằng nhau. Áo mặc trong dịp lễ hội được mở ở hai vai và đơm một hàng ktem bằng bạc với những tua chỉ màu đính vào vai áo, phía dưới nách có đính sợi dây đeo những quả chuông nhỏ… Phụ nữ Êđê xưa thường búi tóc ở đằng sau gáy, cài trâm bằng đồng hoặc ngà voi. Trâm có loại thẳng, có loại hình chữ U. Phụ nữ Êđê có hai kiểu chít khăn: kiểu chít khăn ra đằng sau gáy, kiểu chít khăn ra trước trán vận chéo hình chữ nhân. Các bà, các chị thường đeo vòng bạc hoặc chuỗi hạt trong những dịp lễ hội của cộng đồng, tạo nét đẹp duyên dáng, kín đáo.

Đàn ông Êđê thường có tập quán mang khố (kpin). Khố màu đen được dệt bằng sợi bông xe săn. Trên mặt khố có nhiều đường hoa văn chạy dọc theo hai bên mép vải, ở hai đầu khố có tua dài khoảng 25 cm. Người Êđê căn cứ vào dải hoa văn trên khố mà đặt tên cho từng loại khố: kpin ktek, kpin drai, kpin mlang, trong đó trị giá nhất là khố ktek, khố drai (xưa kia mỗi cái trị giá từ hai đến ba con trâu). Áo của đàn ông Êđê là áo dài tay, chui đầu, cổ áo hình chữ V. Đây là loại áo lửng che kín mông, buông dài đến điểm giữa đùi và đầu gối, thân sau dài hơn thân trước. Áo cánh của đàn ông Êđê thường mặc trong các dịp lễ hội được trang trí cầu kỳ hơn. Loại áo này giữa ngực được mở ra một khoảng dài từ 10-15cm, có đính hàng khuy đồng, khuyết khuy áo được bện bằng chỉ đỏ. Hai mảng ngực áo được trang trí bằng hai mảng hoa văn màu đỏ rực hình cánh chim đại bàng, tượng trưng cho khí phách và khát vọng chinh phục thiên nhiên của người Êđê. Gấu áo được viền chỉ màu đính cườm trắng và tua chỉ màu đỏ dài khoảng một gang tay. Áo này có tên gọi là ao đêch kwưh grưh, thường được mặc trong dịp lễ hội, cưới hỏi, mừng nhà mới… Mùa lạnh, đàn ông Êđê thường khoác thêm chiếc mền (a băn) dệt bằng sợi bông, màu chàm, có trang trí hoa văn ở hai đầu (giống hoa văn ở khố). Đàn ông Êđê thường đeo vòng đồng ở cổ tay, khi có lễ hội của cộng đồng. Người cao tuổi của những gia đình khá giả thường đeo chuỗi hạt ở cổ và ngà voi ở tai, thể hiện vẻ đẹp quyền quý. Khi ra khỏi nhà, dự lễ hội, hay đi thăm bà con ở buôn xa, họ thường đeo gùi, ngậm tẩu, đó cũng là cách làm nổi bật bộ trang phục cổ truyền.

Ngày nay, do ảnh hưởng của cuộc sống đương đại, trang phục, trang sức truyền thống của người Êđê tuy có phần bị mai một, nhưng chúng ta vẫn gặp những bộ trang phục, trang sức này của các amí, ama trong các dịp lễ hội truyền thống của cộng đồng dân tộc Êđê, nhất là mỗi khi đến thăm gia đình họ để thưởng lãm những ly cà phê đặc biệt giữa vùng đất đại ngàn. Nó thể hiện bản sắc độc đáo của đồng bào Êđê, cần được gìn giữ, phát huy trong thời kỳ hội nhập.

 

Chiêng (HVK532)

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình văn hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên: Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai… Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên, là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ. Cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc từ truyền thống văn hóa và lịch sử rất lâu đời. Về cội nguồn, có nhà nghiên cứu cho rằng, cồng chiêng là “hậu duệ” của đàn đá. trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá: cồng đá, chiêng đá… tre, rồi tới thời đại đồ đồng, mới có chiêng đồng… Từ thuở sơ khai, cồng chiêng được đánh lên để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu hiện của tín ngưỡng – là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên… âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng người, sống mãi cùng với đất trời và con người Tây Nguyên. Tất cả các lễ hội trong năm, từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâm trâu.. . hay trong một buổi nghe khan… đều phải có tiếng cồng. Tiếng chiêng dài hơn đời người, tiếng chiêng nối liền, kết dính những thế hệ. Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng, chiêng đều ẩn chứa một vị thần. Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Cồng chiêng còn là tài sản quý giá, biểu tượng cho quyền lực và sự giàu có. Đã có thời một chiếc chiêng giá trị bằng hai con voi hoặc 20 con trâu. Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian lãng mạn và huyền ảo. Cồng chiêng do vậy góp phần tạo nên những sử thi, những áng thơ ca đậm chất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùng tráng. Cồng chiêng đã đi vào sử thi Tây Nguyên như để khẳng định tính trường tồn của loại nhạc cụ này: “Hãy đánh những chiêng âm thanh nhất, những chiêng kêu trầm nhất. Đánh nhè nhẹ cho gió đưa xuống đất. Đánh cho tiếng chiêng vang xa khắp xứ. Đánh cho tiếng chiêng luồn qua sàn lan đi xa. Đánh cho tiếng chiêng vượt qua nhà vọng lên trời. Đánh cho khỉ trên cây cũng quên bám chặt vào cành đến phải ngã xuống đất. Đánh cho ma quỷ mê mải nghe đến quên làm hại con người. Đánh cho chuột sóc quên đào hang, cho rắn nằm ngay đơ, cho thỏ phải giật mình, cho hươu nai đứng nghe quên ăn cỏ, cho tất cả chỉ còn lắng nghe tiếng chiêng của Đam San…”.Tồn tại trên mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ đã hàng ngàn đời nay, nghệ thuật cồng chiêng ở đây đã phát triển đến một trình độ cao. Cồng chiêng Tây Nguyên rất đa dạng, phong phú. Hiện nay, tại hầu hết các buôn làng Tây Nguyên đều có những đội cồng chiêng phục vụ đồng bào trong sinh hoạt cộng đồng, trong dịp hội hè. Vào ngày lễ tết, hình ảnh quen thuộc ””bên ngọn lửa thiêng, những vòng người say sưa múa hát trong tiếng cồng chiêng vang động núi rừng”” lại xuất hiện trên khắp các buôn làng. Các nghệ nhân dân gian diễn tấu cồng chiêng kết hợp với nhau rất hài hòa, tạo nên những bản nhạc với các tiết tấu, hòa thanh rất phong phú, mang sắc thái riêng với muôn vàn cung bậc. Mỗi dân tộc đều có những bản nhạc cồng chiêng riêng để diễn tả vẻ đẹp thiên nhiên, khát vọng của con người… Người Giarai có các bài chiêng Juan, Trum vang… Người Bana có các bài chiêng: Xa Trăng, Sakapo, Atâu, Tơrơi…  Âm thanh của cồng chiêng còn là chất men lôi cuốn gái trai vào những điệu múa hào hứng của cả cộng đồng trong những ngày hội của buôn làng. Đây là sinh hoạt văn hóa dân gian nổi bật nhất ở nhiều dân tộc Tây Nguyên.

Chiêng (HVK531)

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình văn hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên: Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai… Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên, là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ. Cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc từ truyền thống văn hóa và lịch sử rất lâu đời. Về cội nguồn, có nhà nghiên cứu cho rằng, cồng chiêng là “hậu duệ” của đàn đá. trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá: cồng đá, chiêng đá… tre, rồi tới thời đại đồ đồng, mới có chiêng đồng… Từ thuở sơ khai, cồng chiêng được đánh lên để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu hiện của tín ngưỡng – là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên… âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng người, sống mãi cùng với đất trời và con người Tây Nguyên. Tất cả các lễ hội trong năm, từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâm trâu.. . hay trong một buổi nghe khan… đều phải có tiếng cồng. Tiếng chiêng dài hơn đời người, tiếng chiêng nối liền, kết dính những thế hệ. Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng, chiêng đều ẩn chứa một vị thần. Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Cồng chiêng còn là tài sản quý giá, biểu tượng cho quyền lực và sự giàu có. Đã có thời một chiếc chiêng giá trị bằng hai con voi hoặc 20 con trâu. Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian lãng mạn và huyền ảo. Cồng chiêng do vậy góp phần tạo nên những sử thi, những áng thơ ca đậm chất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùng tráng. Cồng chiêng đã đi vào sử thi Tây Nguyên như để khẳng định tính trường tồn của loại nhạc cụ này: “Hãy đánh những chiêng âm thanh nhất, những chiêng kêu trầm nhất. Đánh nhè nhẹ cho gió đưa xuống đất. Đánh cho tiếng chiêng vang xa khắp xứ. Đánh cho tiếng chiêng luồn qua sàn lan đi xa. Đánh cho tiếng chiêng vượt qua nhà vọng lên trời. Đánh cho khỉ trên cây cũng quên bám chặt vào cành đến phải ngã xuống đất. Đánh cho ma quỷ mê mải nghe đến quên làm hại con người. Đánh cho chuột sóc quên đào hang, cho rắn nằm ngay đơ, cho thỏ phải giật mình, cho hươu nai đứng nghe quên ăn cỏ, cho tất cả chỉ còn lắng nghe tiếng chiêng của Đam San…”.Tồn tại trên mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ đã hàng ngàn đời nay, nghệ thuật cồng chiêng ở đây đã phát triển đến một trình độ cao. Cồng chiêng Tây Nguyên rất đa dạng, phong phú. Hiện nay, tại hầu hết các buôn làng Tây Nguyên đều có những đội cồng chiêng phục vụ đồng bào trong sinh hoạt cộng đồng, trong dịp hội hè. Vào ngày lễ tết, hình ảnh quen thuộc ””bên ngọn lửa thiêng, những vòng người say sưa múa hát trong tiếng cồng chiêng vang động núi rừng”” lại xuất hiện trên khắp các buôn làng. Các nghệ nhân dân gian diễn tấu cồng chiêng kết hợp với nhau rất hài hòa, tạo nên những bản nhạc với các tiết tấu, hòa thanh rất phong phú, mang sắc thái riêng với muôn vàn cung bậc. Mỗi dân tộc đều có những bản nhạc cồng chiêng riêng để diễn tả vẻ đẹp thiên nhiên, khát vọng của con người… Người Giarai có các bài chiêng Juan, Trum vang… Người Bana có các bài chiêng: Xa Trăng, Sakapo, Atâu, Tơrơi…  Âm thanh của cồng chiêng còn là chất men lôi cuốn gái trai vào những điệu múa hào hứng của cả cộng đồng trong những ngày hội của buôn làng. Đây là sinh hoạt văn hóa dân gian nổi bật nhất ở nhiều dân tộc Tây Nguyên.

Ấm chứa cà phê

Đây là chiếc ấm chứa cà phê bằng gốm, bụng ấm tròn nhiều hoa văn màu xanh dương, đế ấm bằng gỗ màu đen làm bệ đặt chắc chắn để chiếc ấm nương tựa, hai bên ấm có hai núm cầm cách nhiệt, eo thắt lại ở giữa cổ ấm, nắp ấm liền hình tròn có núm tròn màu xanh, mỏ rót của ấm dạng ống dôi về phía trước, tay cầm của ấm cong dính sát thân ấm tạo nên một sự kết nối vững chắc khi nhìn vào chiếc ấm, giúp việc thưởng thức cà phê thêm ngon hơn.

Xe bò vận chuyển cà phê hạt

Oxcart truyền thống, hay carreta, là sản phẩm của nghề thủ công nổi tiếng nhất của Costa Rica. Có niên đại từ giữa thế kỷ XIX, oxcarts đã được sử dụng để vận chuyển hạt cà phê từ thung lũng trung tâm của Costa Rica trên các ngọn núi đến Puntarenas trên bờ biển Thái Bình Dương, một hành trình cần từ mười đến mười lăm ngày.

Các oxcarts đã sử dụng các bánh xe không có nan hoa, một sản phẩm phối hợp giữa đĩa được sử dụng bởi người Aztec và bánh xe được giới thiệu bởi người Tây Ban Nha, để đi ngang qua bùn mà không bị kẹt. Trong nhiều trường hợp, oxcarts là phương tiện di chuyển duy nhất của gia đình, nó còn như một biểu tượng về địa vị xã hội của họ.

Truyền thống vẽ tranh và trang trí oxcarts bắt đầu từ đầu thế kỷ XX. Ban đầu, mỗi khu vực của Costa Rica có thiết kế riêng, cho phép xác định nguồn gốc của người chủ xe bằng các hoa văn được sơn trên các bánh xe. Vào đầu thế kỷ XX, các họa tiết như: hoa, khuôn mặt và phong cảnh thu nhỏ bắt đầu xuất hiện bên cạnh các mô hình ngôi sao nhọn, và cho đến ngày nay, hàng năm đều có các cuộc thi thưởng cho các nghệ sĩ sáng tạo nhất trong truyền thống này. Mỗi chiếc xe bò được thiết kế để tạo ra “bài hát” của riêng mình, một tiếng chuông độc đáo được tạo ra bởi một vòng kim loại nổi bật trên trục bánh xe khi chiếc xe đẩy đi dọc. Một khi oxcart đã trở thành một nguồn tự hào cá nhân, sự chăm sóc tốt hơn đã được thực hiện và các loại gỗ chất lượng cao nhất đã được chọn để tạo ra âm thanh tốt nhất. Carretas đầy màu sắc và được trang trí phong phú ngày nay có chút giống với những chiếc xe thô sơ, hình chữ nhật, có thể được bao phủ bởi những tấm vải thô. Trong khi hầu hết các khu vực ở Costa Rica, xe tải và xe lửa là phương tiện giao thông chính đã thay thế cho xe bò, thì carretas vẫn là biểu tượng mạnh mẽ của quá khứ nông thôn của Costa Rica,

Kể từ khi oxcarts trở nên lỗi thời như một phương tiện giao thông, nhu cầu về chúng ngày càng giảm, điều đó có nghĩa là số lượng nghệ nhân sở hữu đào tạo để sản xuất và trang trí oxcarts đã giảm mạnh trong những thập kỷ qua.

Oxcarts nằm trong Danh sách đại diện của Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, được công bố vào năm 2005.

Chiếc xe vận chuyển cà phê của Coxta Rica được làm từ gỗ màu cánh gián, có bánh xe tròn và có thể kéo đi được. Thùng xe có nắp 2 ngăn, phía trước của chiếc xe vận chuyển cà phê có thanh gỗ dài dùng để kéo.

“Không có cà phê, chính trị mất vị, chỉ có mùi”

“Sans café, la politique sent car elle perd son essence”
(Napoléon Bonaparte)

Đen tối như ác quỷ, nóng bỏng như địa ngục, trong lành như thiên thần, ngọt ngào như tình yêu”.
“Black as the devil, hot as hell, pure as an angel, sweet as love”

(Charles Maurice de Talleyrand – Một nhà chính trị, một nhà ngoại giao, Thủ tướng đầu tiên của Pháp giai đoạn cận hiện đại)

 

Để tạo nên một sản phẩm cà phê tuyệt hảo, một tách cà phê cuộc đời. Ngoài các công đoạn trồng trọt, chăm sóc, thu hoạch thì giai đoạn chế biến sẽ quyết định chất lượng và tinh thần của cà phê. Sau khi cà phê được thu hoạch, trước khi được bán, cà phê thường được chế biến thô bằng hai phương pháp đó là chế biến khô và phương pháp chế biến ướt.

Phương pháp chế biến khô (Dry): Cà phê sau khi hái được đem đi phơi hoặc sấy khô. Thời gian phơi ngoài trời thường khoảng 1 tuần tùy theo thời tiết nhưng chung quy khi độ ẩm còn khoảng 12% là có thể kết thúc quá trình phơi. Khi khô, lớp vỏ cứng bên ngoài sẽ được xay ra, để lại nhân cà phê cho chế biến rang và xay.

Phương pháp chế biến ướt (Wash): Cà phê sau khi thu hoạch phân loại ra trái chín và chưa chín. Trái chín được đem đi xát vỏ lấy phần nhân rồi ủ lên men từ 12 – 36h. Sau khi lên men, cà phê nhân được đem đi rửa sạch lớp nhầy bên ngoài trước khi phơi hoặc sấy khô đến độ ẩm đạt 12% thì kết thúc.

Nghệ thuật tinh tế và sáng tạo PHỐI TRỘN CÀ PHÊ (Blend)

“Người pha chế cà phê – Barista, vừa là một chuyên gia, một triết gia, một nghệ sỹ, một bác sỹ và là một bậc thầy phù thủy về phối trộn hương vị”

(Chủ tịch Đặng Lê Nguyên Vũ – Người sáng lập Tập đoàn Trung Nguyên Legend)

Tại Trung Nguyên, quan niệm về cà phê đó là cà CÀ PHÊ NĂNG LƯỢNG, cà phê năng lượng được tạo bởi 3 yếu tố: Vật lý, Tâm ý và Thiên ý.

Vật lý: Để tạo ra một sản phẩm, một tách cà phê ngon tuyệt hảo thì cần lựa chọn nguyên liệu tốt nhất và sử dụng công nghệ tốt nhất.

Tâm ý: Nước cũng có tâm hồn, trong chứng minh khoa học của tiến sỹ Masaru Emoto. Cà phê từ lúc trồng, chăm sóc, thu hoạch, chế biến và thưởng lãm, những con người của Trung Nguyên để đặt cả tâm hồn và tình cảm của mình với tâm niệm thiện lành, yêu thương đến khách hàng và người thưởng thức.

Thiên ý: “Cà phê là báu vật của trời đất”. Không phải bất cứ nơi nào trên trái đất cũng có cây phê, cà phê sống chủ yếu nằm song song hai bên đường xích đạo – nơi hội tụ cả hai yếu tố cân bằng của thế giới là Âm và Dương cũng như cộng hưởng, liên thông và thống nhất, tương tác và cộng tồn của các yếu tố thiên thời.

“Mùa thu hoạch – mùa của Lễ hội”

Trước thế kỷ 16, ở châu Âu, thu hoạch là thuật ngữ thường được sử dụng để chỉ mùa thu, nó xuất phát từ một tên tiếng Anh “hærfest” có nghĩa là mùa thu (từ “Herbst” từ tiếng Đức cũng có cùng một nguồn gốc và vẫn còn có nghĩa là mùa thu), nó có nguồn gốc Ấn-Âu “kerp” có nghĩa là để thu thập, hái lượm, nhổ, gặt… So với từ “carpere” động từ tiếng Latinh có nghĩa là để cắt, phân chia, nhổ. Vì vậy, từ hærfest ban đầu chỉ về các lễ kỷ niệm vui vẻ và cuối cùng là có nghĩa có thể thu thập các loại cây trồng đã trưởng thành, sau đó nó mở rộng ý nghĩa thành thời kỳ thu hoạch (thường là vào mùa thu).

Trong tiếng Việt, từ thu hoạch có gốc từ chữ Hán: 收割 gồm hai từ thu: có nghĩa là lấy, gom góp và hoạch: quây lại, để chỉ về quá trình thu gom, tập hợp.

Tại các quốc gia Âu Mỹ, mùa thu cũng là mùa thu hoạch chính và có các lễ hội mừng được mùa. Lễ hội thu hoạch truyền thống tại Anh được tổ chức vào ngày chủ nhật gần “Mùa trăng thu hoạch” (Harvest Moon), đó là ngày trăng tròn xảy ra gần điểm thu phân (22 hoặc 23 tháng 9), tại Hoa Kỳ và Canada là vào tháng 10 hay tháng 11 vào ngày lễ tạ ơn. Đó cũng là lý do hầu hết những lễ hội của các dân tộc thường diễn ra vào mùa xuân và mùa thu, hai mùa đẹp nhất trong năm, khi mùa thu hoạch kết thúc, người nông dân có thời gian nhàn rỗi.

Với cây cà phê mùa vụ thu hoạch phần lớn phụ thuộc vùng sinh thái – điều kiện địa hình, thổ nhưỡng và khí hậu, cùng giống – loài cà phê và việc chăm sóc vườn của từng vùng miền. Ở những vùng lạnh, vùng cao, cà phê chín muộn hơn vùng thấp, nóng. Cà phê chè chín sớm nhất sau đó đến cà phê vối.Cà phê mít chin muộn nhất. Với cà phê vối cũng có giống chín sớm, có giống chín muộn. Ví như tại Colombia mùa thu hoạch là tháng 5 đến tháng 7 và từ tháng 10 đến đầu mùa xuân năm sau, hay Ethiopia và Kenya bắt đầu vào mùa thu hoạch từ tháng 11 năm này đến mùa xuân tháng 2 năm sau, dài hơn hết là tại El Salvador; Guatemala; Honduras; Nicaragua mùa thu hoạch từ tháng 11 năm nay đến hết tháng 3 năm sau và tại Brazil mùa thu hoạch bắt đầu từ tháng 6 đến hết tháng 10 trong năm.

Cà phê Arabica thường chín sớm hơn so với Robusta, khoảng tháng 9-10 trong năm. Với những vùng có khí hậu mát thì cà phê Arabica chín muộn hơn. Cà phê Robusta chín vào tháng 10-12 trong năm. Khi cà phê trên cây chín đạt tỷ lệ khoảng 90 – 95% thì bắt đầu thu hoạch.

Tại Việt Nam, khi tới tháng 9, 10 Âm lịch, khắp miền đất đỏ bazan lại rộn ràng mùa cà phê chín mọng sau một năm chăm sóc vất vả. Khắp nơi Tây Nguyên, không khí rộn ràng từ nương rẫy lan tỏa đến từng ngả đường, từng khoảng sân phơi rực sáng một màu đỏ, đâu đó vang xa những tiếng cười nói, gọi nhau ý ới, văng vẳng là những tiếng hát – hoan ca với tình yêu cà phê, thiên nhiên đất trời cho mùa màng tốt tươi. Như một sự khích lệ tự thưởng cho bản thân sau một năm vất vả chăm bón, người nông dân thường giữ lại chút cà phê trong nhà như món quà khi kết thúc mùa vụ.

 

Tuy nhiên  để có được những ly cà phê tuyệt hảo chiết xuất từ những hạt cà phê chất lượng tuyệt đỉnh, mang giá trị kinh tế lợi nhuận cao, các nhà vườn sẽ chọn cách thu hoạch bằng tay, hái chọn nhiều lần từng quả cà phê chín theo cách chọn lọc thay cho hình thức tuốt nhiều lần, chỉ hái ở những cành mang nhiều quả chín hoặc tuốt một lần tất cả các cành có quả. Khi thu hoạch bằng tay, việc chọn hái các quả chín thực hiện bằng cách nhìn màu sắc. Quả chín thường có màu đỏ hoặc vàng, các quả chưa chín thì có màu xanh, trong khi các quá chín nẫu thường có màu đỏ sẫm đến đen hoàn toàn.Hiện nay, có 3 cách thu hoạch cà phê bằng tay gồm hai hình thức và bằng máy. Thu hoạch bằng máy thường hay sử dụng ở các nông trại cà phê có quy mô lớn. Khi thu hoạch bằng máy thì quan sát mức độ chín trên cây tới tỷ lệ chín cần thu hoạch thì tiến hành hái tất cả nhánh, cây cùng 1 lần. Cách hái này thường lẫn với những hạt chưa chín. Trong trường hợp thu hoạch bằng máy, nguyên tắc thu hoạch của đa số máy là sự rung. Do quả xanh thường bám vào cành chặt hơn quả chín nên việc hái chọn lựa được nhiều quả chín hay không là tuỳ thuộc vào sự điều chỉnh tần số rung của máy.

Đối với phương thức tuốt cành thực hiện bằng cách tuốt quả (toàn bộ hoặc lựa chọn) xuống các tấm bạt nhựa trải dưới tán cây. Nếu quả được tuốt rơi xuống đất và sau đó thu gom thì chất lượng có nguy cơ bị ảnh hưởng nhiều đến chất lượng do có lẫn nhiều tạp chất; đồng thời sẽ tốn công để tách bỏ tạp chất sau khi hái.

Trong khi đó, với việc thu hoạch hái tuốt một lần cả vườn, tuy lý tưởng nhất là đợi cho tới khi tỉ lệ quả xanh ở trên vườn chỉ còn dưới 5%. Nhưng nếu chọn cách này thì rất nhiều quả đã chín và khô trên cây sẽ bắt đầu rụng xuống đất và sự giảm chất lượng từ các quả khô rụng dù được bù đắp bằng sự già chín của các quả xanh (hạt trong các quả xanh cuối vụ thường đã già chín về mặt sinh lý nên vẫn cho chất lượng tốt không thua kém hạt trong quả chín đầu vụ).

Các bước để trồng cà phê không đơn giản mà nó đòi hỏi chúng ta phải có những kỹ thuật đúng chuẩn với chuyên để tạo ra nguyên liệu tuyệt hảo đầy năng lượng. Để có được cây cà phê đạt yêu cầu, cho năng suất cao các bước trồng cần được thực hiện các bước sau:

Đất phẳng được dọn sạch tàn dư thực vật, đào mương thoát nước theo sơ đồ thiết kế vườn cà phê như sau:

Chọn giống: 4/55, 1/20, TR4, TR5, TR6, TR7, TR8, TR9, TR11, TR12, TR13 đều sinh trưởng tốt, phân cành nhiều, cho năng suất từ 4,5 đến 7 tấn cà phê nhân/ha.

Thời vụ:  Trồng vào đầu mùa mưa (tháng 5, tháng 6).

 Khoảng cách, mật độ: Đất tốt, điều kiện thâm canh cao thì trồng thưa và ngược lại. Khoảng cách: đất tốt và bằng phẳng 3 x 3 m (1.118 cây/ha); đất trung bình và dốc 3 x 2.5 m (1.330 cây/ha).

Cách trồng: Cây cà phê không đòi hỏi khắt khe về đất, nó có thể phát triển tốt trên nhiều loại đất khác nhau như: Đất nâu đỏ, nâu vàng hoặc đất xám …. Trong đó, đất đỏ bazan cây cà phê sinh trưởng tốt, cho năng suất cao. Yêu cầu cơ bản là có tầng đất mặt sâu từ 70 cm trở lên, có thành phần cơ giới trung bình đến hơi nặng (Đất thịt nhẹ- sét)

Đào hố trước khi trồng 1 tháng, hố có kích thước 60 x 60 x60 cm. Lớp đất mặt để một phía, sau đó trộn với 10 – 20 kg phân chuồng hoai mục + 0,5 kg super lân + 0.5 kg vôi bột đưa xuống hố.

Lớp đất dưới để một phía sau dùng làm bồn quanh gốc. Lúc trồng bón lót ngoài tán lá cây 100 Gram phân NPK 16 – 16 – 8 – 13 S.

Kỹ thuật chăm sóc cà phê

Chăm sóc cà phê cần những yếu tố sau:

Trồng cây chắn gió cho cà phê

Cây trong giai đoạn kiến thiết, giai đoạn thu hoạch đều cần được chắn gió cẩn thận. Nên sử dụng cây muồng vàng làm cây chắn gió. Trồng vào giữa hàng cà phê, khoảng cách 2-3 hàng cà phê 1 hàng muồng vàng. Xác cây muồng vàng có thể tận dụng để ép xanh khi thay thế cây mới

Trồng cây che bóng cho cà phê

Có thể tận dụng các ngã tư giữa các bồn để trồng cây che bóng, khoảng cách 9 x 9m hoặc 9 x 12m. Trồng cùng thời điểm với cây cà phê con. Các cây che bóng có thể là bơ sáp, sầu riêng thái, cây trụ sống trồng tiêu, vừa có tác dụng che bóng vừa là cây xen canh có giá trị kinh tế, cải thiện thu nhập.

Cây che bóng cần rong tỉa cành hợp lý, không để quá rậm rạp. sao cho cây cà phê bên dưới có thể tiếp nhận được ánh sáng. Tán cây phải cách ngọn cà phê từ 2 – 4m.

Làm cỏ cho cà phê

Cà phê là cây có nhiều rễ con hấp thu dinh dưỡng tầng mặt, do đó cần làm cỏ thường xuyên, 1 năm 4-5 lần. Làm sạch cả trong bồn và trên thành bồn. Khi làm cỏ có thể kết hợp đánh bồn. Trước khi bón phân cũng cần làm cỏ sạch sẽ

Kỹ thuật làm bồn cà phê

Việc làm bồn giúp cho công tác tưới tiêu, bón phân dễ dàng và hiệu quả hơn. Thành bồn cần được nén chặt thành bờ, cao hơn mặt bồn bên trong 15 – 20cm. Mỗi năm đánh bồn 1 lần vào đầu mùa mưa, mở rộng bồn theo tán cây, đến khi giao nhau với các bồn của hàng bên cạnh thì ngưng.

Cắt tỉa cành tạo tán cây cà phê

Thường xuyên bẻ chồi vượt mọc từ thân chính và nách lá, đặc biệt là đầu mùa mưa, trước đợt bỏ phân. 1 năm có thể tiến hành làm chồi từ 5-6 lần. Sau khi thu hoạch, dùng kéo cắt bỏ cành tăm, cành nhỏ giáp thân, cành khô, cành bị sâu bệnh. Ở mỗi vị trí đốt cành chỉ để lại khoảng 3 cành dự trữ. Tỉa bớt các cành thứ cấp trên cao để ánh sáng có thể tiếp cận các cành bên dưới. Hãm ngọn ở độ cao 1,6 – 1,7m.

Đối với cà phê cưa đốn phục hồi: Tiến hành cưa vào khoảng tháng 2 DL, vị trí cưa cách mặt đất 20 – 25cm. Cưa vát 1 góc 45 độ. Nuôi 4-5 chồi khỏe mạnh nhất. Khi chồi cao 25cm, để lại 2 chồi để tạo thân và tiến hành chăm sóc, tạo hình như đối với cà trồng mới

 Phòng trừ sâu bệnh cho cà phê

Vào tháng 3-4 (xuân – hè) và tháng 10-11 (vụ thu đông). Những cây bị sâu nặng phải kịp thời cưa cắt kịp thời để kịp thời diệt nguồn sâu trưởng thành. Trồng cây bóng mát cho cà phê để hận chế sự tác hại của sâu.

Dùng Boremun 4% phun phủ kín lên thân cây từ ngọn đến gốc 1 năm 2 lần để diệt trừ trứng, sâu non và sâu trưởng thành ,Cắt bỏ  các chồi vượt, cành trong tán, cành tăm, cành thừa để tập trung dinh dưỡng nuôi trái. Tỉa những cành khô, già cỗi, cành bị sâu bệnh tạo cho vườn cây thông thoáng, cây sinh trưởng, phát triển tốt, tăng sức chống chịu sâu bệnh, hạn chế sự lây lan của các loại bệnh gây rụng trái. Vệ sinh gốc  Thường xuyên thu gom các cành, lá phát triển nguồn bệnh.

Kỹ thuật tưới nước: Tưới nước cho cây cà phê là biện pháp đòi hỏi đầu tư cao, chi phí lớn nên chỉ được thực hiện ở những vùng có mùa khô kéo dài từ 4 – 6 tháng trong  năm.

Dùng ống nhựa tưới trực tiếp vào gốc cà phê tưới vào mùa khô Phần lớn diện tích cà phê
trên thế giới không được tưới nước trong mùa khô.

Diện tích cà phê được tưới thường được tập trung vào cây cà phê vối, vốn có khả năng chịu hạn kém hơn cà phê chè.
Do điều kiện khí hậu ởTây Nguyên có mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 nămsau nên tưới nước trởthành một biệnpháp kỹ thuật có tính quyết định đến năng suất cà phê ở khu vực này. Nguyên liệu Cà phê Robusta tuyệt hảo đầy nặng lượng của đất đỏ bazan khẳng định vị trí hàng đầu của Ngành cà phê Việt Nam

 

 “Dù có phải xới tung trái đất này lên thì cũng phải làm để tạo nên những tuyệt phẩm cà phê ngon nhất”.

(CHỦ TỊCH ĐẶNG LÊ NGUYÊN VŨ -Nhà Sáng lập Tập đoàn Trung Nguyên Legend)

Hành trình lịch sử của cà phê là một câu chuyện dài và chưa có hồi kết. Nhưng bây giờ sẽ là lúc các bạn được thấy những gì tinh tế nhất, thú vị nhất của cà phê, sẽ hiểu vì sao mà CHỦ TỊCH ĐẶNG LÊ NGUYÊN VŨ – Người sáng lập Tập đoàn Trung Nguyên Legend nói Cả vũ trụ trong 1 tách”.

Ở Trung Nguyên, chúng tôi nhìn thế giới cà phê qua 3 nền văn minh cà phê Ottoman, văn minh cà phê Roman và văn minh cà phê Thiền. Nếu như văn minh cà phê Thiền là tổng hòa của đời sống tinh thần, triết lý, thiên nhân địa hợp nhất hài hòa của phương Đông thì văn minh  cà phê Roman lại gắn với cuộc cách mạng công nghiệp, sự phát triển của máy móc – “sản phẩm” của lối sống hiện đại phương Tây. Giao hòa Đông Tây là văn minh  cà phê Ottoman coi cà phê là thức uống gắn với đời sống tâm linh của con người, coi tâm linh như là cái gốc của cà phê.

  1. VĂN MINH CÀ PHÊ OTTOMAN

Cây cà phê được phát hiện lần đầu tiên tại Ethiopia. Tên gốc của Ethiopia là Abyssinia và là nước độc lập cổ xưa nhất của châu Phi, đã được văn minh Ai Cập biết đến từ hai ngàn năm trước công nguyên. Ethiopia là một địa điểm cổ sơ nhất mà các nhà khoa học biết được về sự sinh tồn của loài người thông minh (homo-sapiens), cũng là một trong những vương quốc cổ kính nhất. Homer đã nhắc tới Ethiopia hai lần trong sử thi Iliad và ba lần trong Odyssey. Đây là xứ nằm trên đường giao lưu của châu Phi, châu Á, và châu Âu. Có thể nói, với nền văn hóa đặc sắc đa sắc tộc, đa tôn giáo, đa ngôn ngữ, Ethiopia là một trong những thử nghiệm giao lưu toàn cầu hóa lý thú nhất cho châu Phi và toàn thế giới. Ethiopia nằm ở đông bắc châu Phi, đây là nơi phát tích cây cà phê arabica trong những thung lũng hoang vắng đất đỏ của núi lửa xa xưa và sương mù ở độ cao hàng ngàn thước trên mặt biển. Từ cổ xưa, dân địa phương đã dùng lá, ăn trái, nấu hạt cà phê làm thức ăn và thức uống bình dị. Theo truyền thuyết dân gian, cà phê được coi là những giọt nước mắt của Thượng đế nhỏ xuống thi thể của các bà mo, thầy phù thủy. Bộ tộc Oromo ngày nay còn giữ phong tục là trồng một cây cà phê trên mộ của những thầy mo. Cà phê khởi đầu ngoài việc để cúng tế thì chủ yếu là để ăn bằng cách giã hạt cà phê thành bột, trộn với mỡ, sữa hoặc bơ, viên thành dạng tròn sấy khô nhằm làm lương thảo nạp năng lượng cao trên đường hành quân cho các chiến binh Ethiopia. Những sử thi lừng lẫy về các đế chế của Ethiopia suốt thời cổ đại gắn liền với thời kỳ mà duy nhất chỉ có Ethiopia biết vận dụng công năng của cà phê. Một trong những món quà trân quý mà Nữ Hoàng Sheba của Ethiopia và Yemen mang tặng Hoàng đế Salomon (970-931 trước CN) ở thành Jerusalem đã được không ít hoc giả phương Tây luận đoán là hạt cà phê để pha thành thức uống đã được thời ấy nhìn nhận là có dược chất tạo sự khai thông tinh thần.

Ethiopia không chỉ là vùng đất quê nhà của cà phê, mà còn là nơi cà phê được xem như biểu tượng của quyền lực, một thức uống của thần linh, nghi thức cà phê là một lễ nghi tâm linh. Khi tiến hành một nghi thức cà phê, người Ethiopia cho rằng họ đang giao tiếp với các đấng tối cao.

Một bộ phận những người ưa thích cà phê sớm nhất là các tín đồ theo đạo Hồi. Văn minh cà phê Ottoman là văn minh cà phê của thế giới Hồi giáo, nơi cà phê được xem là loại thức uống thần thánh mang lại sự tỉnh táo, kích thích sáng tạo và củng cố đức tin cho tín đồ Hồi giáo.

Cà phê phát triển và trở nên thực sự phổ biến vào năm 1575 khi quán cà phê đầu tiên được mở tại Istabul. Tại đây, cà phê được cung cấp như “sữa cho những người chơi cờ và những người suy tư”. Đến giữa thế kỷ 17, cà phê đã xâm nhập vào triều đình đế quốc Ottoman với những viên quan phụ trách cà phê có đến hơn 40 người phụ tá pha chế và dọn hầu cho hoàng đế và các cận thần. Ở giai đoạn cực thịnh nhất, Đế chế Ottoman trải rộng qua ba châu lục và bao phủ một phạm vi rộng các nền văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ. Bất chấp những khác biệt văn hóa này, đế chế vẫn phát triển thịnh vượng trong 623 năm, từ 1299 đến 1922 sau Công nguyên.

Từ những ngày của đế chế Ottoman đến nay, cà phê đã đóng một vai trò quan trọng trong lối sống và văn hoá Thổ Nhĩ Kỳ. Việc phục vụ và uống cà phê đã có một ảnh hưởng sâu sắc đến tục lệ, phong tục tập quán, liên quan đến chính trị, xã hội, cầu nguyện, và truyền thống hiếu khách qua nhiều thế kỷ. Mặc dù nhiều nghi lễ với cà phê không còn phổ biến trong xã hội ngày nay, cà phê vẫn là một phần không thể tách rời của văn hoá Thổ Nhĩ Kỳ.

2. VĂN MINH CÀ PHÊ ROMAN

Văn minh cà phê Roman hay còn gọi là Cà phê La Mã là nền văn minh cà phê đại diện của phương Tây, nổi danh từ thế kỷ thứ XVI khi được Giáo Hoàng Clement VIII dùng trong nghi thức rửa tội cho tín đồ. Cà phê Roman tiêu biểu cho văn minh cà phê ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất và pha chế cà phê, kết hợp với sự thăng hoa trong nghệ thuật trình bày.

Văn minh cà phê Roman mang trong mình tri thức cấp tiến của một nền văn minh đã nỗ lực vượt khỏi áp bức của thần quyền trong thời Phục hưng, khai triển trí tuệ con người trong thời Khai sáng. Sau hơn 10 thế kỉ của đêm dài mộng mị thời Trung Cổ Tây Âu, tầng lớp tư bản phôi thai cùng với đạo Tin Lành đã hiển dương cà phê – thứ đồ uống mới được du nhập từ Trung Đông- như thức uống nhân văn của thời đại và đả kích việc lạm dụng bia như sự tàn hại của nhân cách.

Thời kỳ đầu của tư bản Tây Âu, cà phê được vinh thăng như thức uống giúp con người cởi trói xiềng xích và tạo tác sự tự do cho bản thân. Cùng với các tổ chức tư bản, cà phê đã góp phần đưa xã hội Tây Âu thời bấy giờ thoát khỏi cảnh ngập trong bia vàng – đen – trắng. Chính bởi vậy, có thể nói rằng ở Tây Âu tư bản cần cà phê và cà phê cần tư bản như hai tác năng song hành.

Thưởng thức và Tận hưởng (tiếng La Tinh Delectare et Prodesse) là kim chỉ nam đặt nền móng cho sự định hình của văn hóa cà phê Tây Âu lục địa với sự phân vùng và tương tác giữa ba tố chất nổi bật là French Class (Đẳng cấp Pháp), Italian Style (Phong cách Ý) và Viennese Spirit (Tâm thức Wien). Trong khi Thưởng thức chủ yếu liên quan đến thuộc tính của cà phê thì Tận hưởng cơ bản nói về khí quyển của cà phê, chính xác hơn là không gian, thời gian và con người quanh việc uống cà phê. Chính vì vậy, tính chất của thức uống không thể tách rời với động năng của hàng quán cũng như tưởng vọng của cách hàng. Các yếu tố lịch sử của vật thể, không gian, thời gian và con người là những yếu tố cấu thành nền văn minh cà phê giai đoạn Xã hội cà phê.

3. VĂN MINH CÀ PHÊ THIỀN

Văn minh Cà phê Thiền là văn minh cà phê tiêu biểu, hội tụ triết lý của người Phương Đông, được tạo nên từ sự tĩnh tại, rõ biết trong từng phút giây của con người để tỉnh thức, chiêm nghiệm và lĩnh hội tri thức từ những cuốn sách của nền văn minh nhân loại để đi đến giàu có và hạnh phúc đích thực. Nguồn gốc của Văn minh Cà phê Thiền bắt nguồn từ đâu? Theo “Trung Nguyên cà phê triết đạo nhân sinh”:

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Xã hội Cà phê chín muồi trên khắp châu Âu, ba niềm tin cơ bản cấu thành nền tảng tư duy hiện đại khởi sinh với thời khai sáng đã dần dần rạn vỡ. Tính ưu việt của lý trí, chiều hướng tất yếu của tiến bộ văn minh, sự lan tỏa của hạnh phúc nhân quần dựa trên thành quả của khoa học công nghệ bị những tai biến lịch sử đánh đổ tơi tả, mà lịch sử lại được làm nên bởi chính con người chứ không phải là thiên mệnh từ trên trời rơi xuống. Làm sao có thể tin rằng, lý trí luôn dẫn dắt con người khi mà những thảm họa của chiến tranh đó đây vẫn luôn diễn ra và đặt nhân loại trước nguy cơ diệt vong chưa từng có? Làm sao còn có thể tin vào sự tiên tiến của khoa học công nghệ khi nhân danh văn minh mà môi sinh của con người bị tàn phá và luôn cả sự tồn vong của địa cầu cũng bị đe dọa? Làm sao có thể tin về hạnh phúc khi mà mọi mô hình, học thuyết và chủ nghĩa, từ tăng trưởng kinh tế cho đến phát triển xã hội – chính trị lần lượt khánh tận hoặc rơi vào bế tắc. Trong bối cảnh ấy, tinh thần và tâm lý con người của thế kỷ XX, nhất là vào thập niên 80 phải chịu thêm sức ép ngày càng nặng nề và hoàn toàn mới lạ: bạo lực của thời gian. Sự phổ biến của stress, được gọi là căn bệnh của thời đại, chẳng phải là ngẫu nhiên. Hai thái cực của stress đã được gọi rất chính xác trong tiếng Việt: bên này là căng thẳng thần kinh và bên kia là tâm thần trầm cảm. Theo ngôn từ chuyên môn, căng thẳng là vì thiếu thời gian và trầm cảm vì thừa thời gian. Con người cảm thấy bị căng thẳng thần kinh bởi tính cạnh tranh ngày càng cao trong đời sống bắt con người phải luôn vượt qua kẻ khác và vượt trội chính mình, vì thế họ luôn cảm nhận thiếu thời gian để khẳng định vị thế của mình. Ngược lại, khủng hoảng kinh tế liên tục, kéo dài không chỉ đưa con người đến trạng thái bất an mà còn tạo tâm lý thừa thời gian nặng nề đối với những ai bị đẩy ra bên lề cuộc sống khi thất nghiệp hoặc chưa kiếm được việc làm. Trong vận tốc ngày càng nhanh của cuộc sống, thâm tâm con người còn phải đối đầu với niềm khắc khoải ghê gớm nhất của phận làm người, tự nhận mình là Chủ thể của Văn minh, phát minh ra những phương tiện ngày càng tối tân với mong muốn làm chủ thời gian nhưng rốt cuộc con người lại để thời gian làm chủ mình. Miệt mài đánh đổi cái hiện hữu của bản thân để có cái sở hữu của sinh tồn, cuối cùng sự hoảng loạn của con người không chỉ ở bình diện tâm lý mà đã lan sang cả lĩnh vực tâm linh. Con người hậu hiện đại/siêu hiện đại có xu hướng chìm vào quên lãng với rượu và bia để quên đi chính mình; xu hướng khác thì loay hoay tìm dựa vào các thế lực từ siêu nhiên đến tự nhiên, xu hướng vái tứ phương để mong cầu tìm lại bản thân và cội nguồn của chính nó trở nên phổ biến.

Tiêu dùng và thưởng lãm cà phê không những không nằm ngoài các xung lực ấy mà còn góp phần tái tạo hoặc chuyển hóa các xung lực đó, khởi nguồn từ cái quan trọng nhất là Con người cần tỉnh thức, để tìm lại được bản thân mình, bởi vì, Cà phê đã mở hướng cho não trạng của giới thức giả châu Âu nhìn nhận lại những đóng góp của văn minh Phương Đông cho nhân loại, họ lại tìm về Đông nơi mặt trời mọc bằng việc dõi về Tây nơi mặt trời lặn, mong được hành hương về một địa đàng đã mất, con người đang tìm kiếm những mối giao hòa Đông – Tây.