Category: Câu chuyện trưng bày gác gỗ

Quán cà phê phong cách Thiền thường sử dụng cát, đá, nước để tái tạo sự tinh tuý của thiên nhiên, có tác dụng làm dịu căng thẳng cho con người, gợi lên cảm giác yên bình và tĩnh lặng, hướng đến việc giúp người thưởng lãm có một Tâm bình – Thân an – Trí sáng.

Tạo điểm nhấn là nước và cây xanh mang một cảm giác thiền tịnh khởi đầu cho các không gian trong quán, dễ dàng cuốn hút đối với ai thích sự bình yên. Sự kết hợp hài hoà giữa màu sắc, ánh sáng, chất liệu…tạo cảm giác có Thiền, có lặng nhưng người thưởng lãm cà phê không cảm thấy buồn tẻ, u tịch.

Kiến trúc quán thường được thiết kế phù hợp với thiên nhiên con người và cảnh vật. Tất cả dường như đánh thức các giác quan trong một sự cân bằng đầy chủ ý, đậm chất Thiền ở mỗi một người đến thưởng lãm cà phê.

Không gian bên ngoài là sự thoáng đãng gần gũi với thiên nhiên, còn không gian bên trong thì tùy từng quốc gia nơi quán đứng chân, nhưng đều mang màu sắc phương Đông kết hợp với những đường nét đương đại.

Các quán Cà phê theo phong cách Thiền thường không quá lớn để thấy ồn ào và cũng không nhỏ quá để thấy bức bí chật chội, quán vừa đủ để mang lại một chút Thiền, chút tĩnh lặng cho những ai thích ngồi lâu và sống chậm. Sự nhẹ nhàng, tinh tế kết hợp khéo léo với yếu tố thô mộc, dung dị, gần gũi với thiên nhiên, đời thường chính là nét văn minh cà phê Thiền đậm chất Á Đông.

Phong thái, Thanh sắc và Thanh âm của các hàng quán cà phê là cái mà khách hàng muốn được có, điều này chính là hình thái tột đỉnh để vinh thăng tinh hoa của Văn hóa Cà phê, đó chính là những nét khác biệt rất riêng của Văn minh Cà phê Thiền.

 

Đây là một trong những phong cách thưởng lãm của nền Văn minh cà phê Roman

Trong lĩnh vực Thưởng thức và Tận hưởng cà phê được khởi xướng sau cuộc đại Cách mạng Pháp lật đổ chế độ phong kiến năm 1789. Biểu trưng cho nước Pháp thời kỳ ấy là thủ đô Paris với những quán cà phê mang phong cách lịch thiệp, sang trọng và nhất được mệnh danh French Class (Đẳng cấp Pháp).

Điều này được thể hiện  thông qua sự dịch chuyển của không gian và địa thế của những nơi đặt định các quán cà  phê nổi tiếng tại Paris từ cuối thế kỉ XVIII đến nửa cuối thế kỉ XX, là sự phát triển của các thể loại quán cà phê liên quan đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như: văn học, nghệ thuật, chính trị, xã hội…Có thể nói rằng, các quán cà phê là một phần bản chất của Paris.

“Quán cà phê Paris” —nếu có hai từ gợi lên ý tưởng, hình ảnh hoặc bản chất của lối sống Pháp, thì đó chính là những từ này. Khái niệm về xã hội quán cà phê có từ giữa thế kỷ 19 và được tiên phong ở Paris, một thành phố nơi xã hội hóa, tranh luận và vui vẻ được coi là de rigueur (tạm dịch là Sự nghiêm khắc). Quán cà phê đầu tiên ở Pháp là Le Procope nằm ở tả ngạn, được mở vào năm 1686 như một nơi gặp gỡ trao đổi giữa các tầng lớp văn minh bao gồm Rousseau, Diderot và Voltaire (Napoléon cũng là một vị khách thường xuyên). Có một thời gian người ta thấy tư duy tốt nhất về nước Pháp, trong nghệ thuật và chính trị, đa số được phát ra từ các quán cà phê. Và những ý tưởng, xu hướng và chủ đề xuất hiện từ những mạng lưới không gian mở này đã giúp hình thành nhịp sống của Kinh đô hoa lệ.

Tất nhiên, đó là mấy mươi năm trước, còn ngày nay lối sống hiện đại đã thay đổi rất nhiều, vậy danh xưng Đẳng cấp Pháp (French Class) hiện nay như thế nào? Ngày nay, được mệnh danh là Kinh đô Ánh sáng, Kinh đô Thời trang, nhưng không chỉ vậy. Pháp và Paris vẫn nổi tiếng với nền ẩm thực đặc biệt trên toàn thế giới với những nhà hàng sang trọng và nổi tiếng, những đầu bếp giỏi, danh tiếng trên toàn thế giới và những người sẽ biết cách làm hài lòng vị giác của bạn với những thực đơn tinh tế, đó là những tác phẩm nghệ thuật thực sự được tạo ra nhờ trí tưởng tượng và tài năng của họ. Cổ điển và hiện đại, những hàng quán ở đây vẫn mang phong cách Đẳng cấp Pháp (French Class), nhưng với những nét hiện đại sẽ làm thăng hoa sự thưởng lãm của thực khách mà chất lượng vẫn luôn đảm bảo sự hài lòng của người thưởng lãm.

Thổ Nhĩ Kỳ có lẽ là quốc gia duy nhất trên thế giới coi cà phê là Quốc uống, cà phê Thổ Nhĩ Kỳ là một phần của văn hóa và di sản của đất nước. Cà phê Thổ Nhĩ Kỳ đặc biệt là bởi chính lịch sử dùng cà phê và cách pha chế đặc trưng. Phương thức pha chế cà phê kiểu Thổ Nhĩ Kỳ, Turkish Coffee, được xem là có nguồn gốc từ Damacus và được phổ biến rộng rãi trong thời kỳ của Đế chế Ottoman. Trải qua một quá trình phát triển, thăng trầm cùng lịch sử, Turkish Coffee đã trở thành một nét văn hóa hết sức đặc trưng, cách chế biến chung của các quốc gia ở khu vực Trung Đông, Bắc Phi, Somaliland và các nước thuộc vùng Balkan.

Trong các quán cà phê thường trang trí đơn giản, phong cách thoải mái. Các quán đều có những chiếc máy pha cà phê cổ sáng bóng dùng để xay và rang nhãn hiệu đặc sản của nó và cezve, loại bình truyền thống dùng để pha cà phê Thổ Nhĩ Kỳ là vật dụng không thể thiếu, cezve đó là một loại ấm pha cà phê nhỏ có đáy lớn, miệng hẹp, ấm thường được làm bằng đồng để dẫn nhiệt cho tốt và có tay cầm bằng gỗ cho khỏi nóng. Một chiếc khay nhỏ chứa cát đặt trên một bếp than hồng. Khi cát đủ độ nóng, hạt cà phê được rang kỹ và nghiền thật nhuyễn như bột bỏ vào ấm và đặt lên cát để sự truyền nhiệt đều và dịu hơn lửa trực tiếp.

Nhiều quán nhân viên phục vụ mặc trang phục Ottoman truyền thống và phục vụ cà phê trong những chiếc cốc được trang trí họa tiết mang đặc trưng Thổ Nhĩ Kỳ. Phong thái của từng nhân viên của quán được tuân thủ nghiêm ngặt. Người pha chế phải thực sự tập trung, có kỹ thuật và sự trải nghiệm mới có khả năng pha ra những ly cà phê ngon, hấp dẫn thực khách. Từ ngọn lửa để đun cà phê, định lượng lượng nước cần sử dụng, kỹ thuật để tạo bọt cho cà phê khi nước sôi, điều chỉnh màu sắc của nước cà phê, độ chín của bột cà phê xay… Người phục vụ cho khách phải hết sức cẩn trọng khi cà phê còn nóng trong những tách nhỏ gọn và đọc, hiểu những bí mật đằng sau mỗi ly cà phê mà người thưởng lãm đã dùng xong còn đọng lại. Có những quán cà phê nhỏ, người pha chế cũng chính là người phục vụ thực khách thì yêu cầu đối với họ càng phải hết sức cầu kỳ ngay trên bếp và khi cà phê còn nóng.

Không gian quán được trang bị các bài hát mang âm hưởng âm nhạc dân gian Thổ Nhĩ Kỳ, hòa quyện với hương vị cà phê, bắt buộc người thưởng lãm phải ngồi xuống, chậm rãi, thư thái hớp từng ngụm nhỏ thì mới có thể cảm nhận được từng làn hương thơm quyến rũ của cà phê, vị rất đặc trưng từ cách pha chế đặc biệt và trong một không gian quán đặc biệt như ở quốc gia này.

Đối với người Tây Nguyên, nơi trồng và chế biến cà phê hàng đầu Việt Nam nhưng người trồng cà phê Tây Nguyên lại không mấy khi uống các loại được quảng cáo trên nhiều phương tiện truyền thông. Đa phần họ thường chỉ thích thưởng thức cà phê tự mình pha chế.  Cà phê nguyên chất tinh khiết luôn có màu nâu cánh gián hay màu hổ phách, khi chế ra ly luôn trong và đẹp. Cách pha cũng tương tự kiểu cà phê Vợt song tinh tế hơn nhiều, kiểu pha chế của người Êđê sau đây là một ví dụ.

Người Êđê ở Tây Nguyên có kiểu pha chế truyền thống và thưởng thức cà phê theo cách của riêng mình. Cà phê cho vào cối giã mịn. Bột cà phê sẽ được sàng để lọc bỏ tạp chất, nước được lấy từ suối chảy qua ống lồ ô tại bến nước gần buôn làng, họ quan niệm đây là nước trong sạch nhất. Buổi sáng tinh sương, khi mặt trời vẫn chưa kịp mọc, những người phụ nữ Êđê đã đi xuống bến nước gùi những bầu nước đem về đun sôi và đổ vào túi lọc để hãm cà phê.  Người ta không sử dụng phin mà dùng một chiếc túi lọc để thay thế. Cà phê qua 3 lần chín (hái chín, rang chín và hãm chín) sẽ cho ra một loại thức uống mang hương vị thơm ngon đặc trưng. Tùy theo sở thích, khẩu vị mà người uống sẽ cho thêm sữa, đường hoặc đá…(chín lần thứ ba). Công đoạn này có sự khác biệt đôi chút trong phong tục của các nhánh người Êđê. Người Êđê Kpă thường hòa tan trực tiếp bột vào nước đang sôi. Còn người Êđê Adham lại múc bột vào túi phễu vải nhỏ và thả vào ấm nước đang đun sôi để tinh chất cà phê thấm dần vào nước. Công đoạn cuối cùng là rót cà phê vào từng cốc hoặc ly nhỏ được thực hiện bởi những phụ nữ Êđê trẻ tại bếp khách của gian nhà chính. Trước đây, một ly cà phê được chuyển qua tay nhiều người cùng uống chung, nhưng hiện nay, họ đã sử dụng mỗi người một ly nhỏ. Hương vị cà phê lan tỏa khắp căn nhà dài Êđê truyền thống. Phong cách uống cà phê đúng kiểu người Êđê là phải đưa ly cà phê lên mũi ngửi hương vị trước khi uống, làm như vậy thì hương vị sâu lắng của cà phê mới thấm sâu vào khứu giác và dù uống một lần cũng không thể quên được. Bí ẩn trong ly cà phê truyền thống của người Êđê chính là tỷ lệ pha trộn giữa 3 loại trái cà phê khác nhau và lượng mỡ gà, muối, rượu trắng trong từng mẻ rang. Cà phê vối với vị đắng dịu mang đến sự táo bạo, quyết đoán. Cà phê chè có một chút vị ngọt, chát hoặc mặn và cà phê mít lại có vị chua tạo mang đến thêm cảm xúc trầm tư, sâu lắng cho người uống.
Cùng với tình cảm của người phụ nữ chủ nhà dành cho khách quý được thể hiện tinh tế, sâu sắc trong vị cà phê mà họ pha chế.

Nhà dài nơi cư trú của đại gia đình mẫu hệ Êđê, trong các sử thi ở Tây Nguyên đã từng miêu tả xưa kia có những ngôi nhà dài đến hàng trăm mét hoặc được ví von là nhà thật dài, dài như một tiếng chiêng ngân, dài như một hơi ngựa chạy,… Ngày nay, khi đến Tây Nguyên, thường chỉ bắt gặp những ngôi nhà dài từ 30 đến 40m, tuy nhiên những nét kiến trúc truyền thống vẫn còn để cho ta biết về đặc trưng của văn hóa Êđê như: hình dáng ngôi nhà ở, cầu thang, cây nêu,…

Nhà ở truyền thống của người Êđê, nhìn tổng thể trông giống như hình chiếc thuyền độc mộc với hai đầu mái nhô ra trên rộng dưới hẹp mà người ta thường gọi là kiểu “thượng thách hạ thu”. Chất liệu của ngôi nhà chủ yếu lấy từ thiên nhiên như: tranh, tre, nứa và gỗ. Nhằm thích ứng với môi trường thiên nhiên tránh thiên tai thú dữ bảo vệ sự sống của các thành viên trong gia đình. Nhà sàn của đồng bào Êđê còn được gọi là nhà sàn dài, mặt sàn nhà thường cách đất từ 1,0 m đến 1,7m với hai hàng cột chính chạy song song được làm từ những cây gỗ lâu năm rất lớn và đây cũng là hệ thống chịu lực chính của ngôi nhà.

Nội thất bên trong ngôi nhà được chia làm hai phần rõ rệt là phần gar và ôk.

Phần gar là gian dành để tiếp khách, phần này chiếm khoảng 1/3 diện tích ngôi nhà và là nơi trưng bày các hiện vật quý giá của gia đình như: cồng chiêng, h’gơr (trống), kpan (ghế dài), jhưng (ghế chủ nhà) và gơng drai (cây Nêu) có cột các ché rượu trong các dịp gia đình tổ chức các nghi lễ.

Phần ôk, được ngăn thành các ô riêng, là nơi sinh hoạt chính của gia đình, mỗi gia đình đều có vách ngăn riêng và bếp lửa riêng vì trong một ngôi nhà dài thường có nhiều gia đình sinh sống với nhau. Họ canh tác chung trên một  nương rẫy, cùng săn chung trong một cánh rừng vì thế mà của cải làm ra được chia đều cho tất cả mọi người và khi họ mất đi vẫn được chia phần công bằng.

Phần cuối của ngôi nhà là bếp lửa chung của cả gia đình, mỗi đầu nhà dài có một sân sàn, sân sàn ở phía cửa chính được gọi là sân khách. Muốn vào nhà phải qua sân sàn này, nhà càng khá giả thì sân khách càng rộng, khang trang. Cầu thang thường được trang trí đôi bầu sữa mẹ, đôi khi có hình trăng khuyết, còn các cột, kèo thường được đẽo gọt, trang trí hình các con vật như voi, ba ba, kì đà… các vật trang trí này luôn được đẽo bằng tay với cây rìu truyền thống.