Category: Câu chuyện hiện vật

Đây là máy pha cà phê Espresso của Italia kích cỡ nhỏ, chất liệu inox và nhựa dẻo cao cấp, sử dụng áp lực thanh tối ưu là 15mm, chiếc máy thông minh này có thể biến cà phê xay thành đồ uống nóng thơm ngon, chất lượng. Máy ECF50 này được trang bị hệ thống Thermoblock để khởi động nhanh chóng trong thời gian chờ đợi ngắn, bạn có thể nhẹ nhàng làm ấm ly cà phê của bạn trên bề mặt được làm nóng của máy và thưởng thức đồ uống nóng yêu thích của bạn ở nhiệt độ hoàn hảo, nhiều người tại quốc gia này luôn tạo mới phong cách thưởng lãm cà phê của mình họ có thể ăn kèm với bánh hạnh nhân tạo độ béo cho cà phê và tăng thêm mùi thơm khó quên.

Đây là bức tượng dùng để trưng bày tại quán cà phê, chất liệu đá khối được điêu khắc độc đáo thành tượng người phụ nữ đang xay cà phê của quốc gia Ethiopia vào năm 1800, người Ethiopia cho rằng việc bếp núc pha chế cà phê là việc của những người phụ nữ trong gia đình, người phụ nữ đóng vai trò chủ chốt tiến hành nghi thức pha chế và dọn bày, bên cạnh họ luôn có người chồng đồng hành một cách chỉn chu và trang hoàng trước khi nghi thức pha chế cà phê của người Ethiopia được chuẩn bị, cảnh này cũng toát lên được tinh thần yêu cà phê và thể hiện cách tôn thờ hạt cà phê của gia đình, cà phê được nhắc đến trong những câu thần chú như:  ASHAMA,Bình cà phê của chúng ta – Hãy mở miệng ra cầu cho con em chúng ta trưởng thành; Cho chúng ta thịnh vượng; Che chở cho chúng ta trước loài quỷ dữ; Cho chúng ta mưa và mùa xuân.

Văn hóa cà phê của Ethiopia bắt rễ trong tín ngưỡng thờ phụng và hòa đồng với bà mẹ tự nhiên phồn thực. Để làm nổi bật ý nghĩa đó, sự cử hành nghi thức cà phê cũng hết sức thong thả, thoải mái.

Cà phê được dọn trong ba lần, sáng – trưa – chiều mỗi lần kéo dài 2 đến 3 giờ, từ đó hình ảnh người phụ nữ Ethiopia luôn được mọi người nhắc đến trong các nghi lễ cà phê lúc bấy giờ.

Đây là bình chứa cà phê nhân đã rang để bán tại các siêu thị Cà phê, chất liệu sứ màu trắng được sản xuất tại quốc gia Đức vào năm 1930, người ta ý thức được rằng việc bảo quản nguyên liệu cà phê ban đầu sẽ mang lại ly cà phê ngon và giữ được mùi và màu cà phê tốt hơn, điều kiện chuẩn cho nguyên liệu cà phê ngon không những loại bỏ tạp chất bẩn do thời tiết bên ngoài mà còn phải giữ nguyên màu sắc của hạt, tiêu chuẩn của nguyên liệu là màu nâu cánh gián có độ bóng và thơm ngất ngây.

Nắp rút bên trên có công dụng tiện cho việc xem chất lượng hạt cà phê được chứa bên trong, nắp bên dưới gạt lấy hạt khi bán cho khách hàng.

Sàng cà phê

Đây là dụng cụ sàng cà phê, chất liệu kim loại màu đen, có bốn chân trụ dùng để sang lọc bụi bẩn và phân loại những hạt cà phê nhân kém chất lượng để thu lại những nguyên liệu đạt tiêu chuẩn phục vụ cho việc pha chế.

Vào những năm 1900, quốc gia Đức bắt đầu có những bước ngoặc tiêu thụ cà phê khá mạnh và đánh dấu sự phát triển dây chuyền sản xuất cà phê, trong những xưởng sản xuất nhỏ lẻ tại thành phố Hambug người ta luôn đề cao việc làm sạch tạm chất trong cà phê hạt để mang lại nguyên liệu sạch và đạt chuẩn cho bước kế tiếp là thưởng lãm cà phê, có nhiều xung đột xảy ra khi những ý kiến cho rằng việc loại bỏ tạp chất không quan trọng bằng việc có được số lượng cà phê. Tuy nhiên những người pha chế luôn ý thức rằng để có được ly cà phê tuyệt hảo người ta phải loại bỏ tạp chất trước cho nguyên liệu cà phê vì vậy ở Đức, tuy không phải là quốc gia sản xuất cà phê, nhưng họ rất đề cao việc chế biến cà phê để đi đến bước thưởng lãm tuyệt hảo thì sàng lọc cà phê hết sức quan trọng, cho đến ngày nay các cơ sở chế biến cà phê nhỏ tại Đức, vẫn còn tồn tại những dụng cụ tương tự.

Đây là lò rang cà phê, dùng để rang cà phê trong xưởng sản xuất cà phê ngày xưa của Đức, quả cầu bên trong lò rang chứa được 5 kg cà phê nhân, lò rang có chiếc nắp đậy khá tinh tế có thể thoát hơi ra ngoài để giữ độ chín đều của cà phê, bên dưới lò chứa những cục than khá to người ta thường dùng tay để vừa đảo đều cà phê bên trong quả cầu vừa thổi than bên trong, đây có thể coi là chiếc lò rang than đầu tiên của công nghệ Đức vào những năm 1900 Là một trong những dòng máy rang đầu tiên dạng trống lồng cầu của hãng Probat Emmericher, có chân trụ cao, khung máy được thiết kế chắc chắn bằng sắt, lồng rang hình cầu màu đen được gắn bởi thanh sắt. Máy rang hình trống có nắp bật liền máy, quanh thân có những nút chốt bằng sắt, được sản xuất theo kiểu cách tân tiến nhất thời kì đó, nhiều quốc gia họ vẫn có thể sản xuất ra những chiếc lò rang tương tự, tuy nhiên người ta cho rằng thương hiệu đầu đời Probat của Đức vẫn được ưa chuộng hơn cả.

Đây là thùng súc cà phê khi đóng bao, chất liệu gỗ có thanh ngang  ở giữa làm tay cầm, cách đóng thùng tuy đơn giản nhưng người Ethiopia thường chọn những chất liệu gỗ tốt sử dụng được bền hơn, sau khi sử dụng xong  người ta thường vệ sinh sạch sẽ và phơi khô thùng, để tiện sử dụng cho lần sau, người ta không nhớ chính xác là sản xuất vào năm nào, tuy nhiên những vật dụng bằng gỗ thường sản xuất nhiều nhất vào những năm 1800 vào những năm cuối cùng chuyển giao thế kỉ mới, dường như người ta lãng quên đi nhiều thứ công cụ lao động gần như là linh hồn của người làm cà phê, chỉ một số vùng lân cận Kafa thuộc Ethiopia mới nhận thức được là cần kế nhiệm và tiếp tục duy trì những công cụ lao động có ích và ý nghĩa này.

Đây là bộ khung và dây thừng chuyên dùng cho việc vận chuyển bao cà phê sau khi thu hái, ngày xưa ở vùng đất Kafa thuộc Ethiopia họ thường nhờ sức kéo của lạc đà để vận chuyển hàng hóa, không chỉ cà phê mà còn nhiều hàng hóa khác, chất liệu bộ dây thừng bằng dây rừng rất bền, họ có thể cột bốn góc bao cà phê và thồ hai bên hông của con lạc đà, người dân Ethiopia sử dụng nhiều vào những năm 1800.

Nón

Đây là nón của người Trung Quốc, chất liệu tre có chóp nhọn, sản xuất năm 1900, công việc thu hái cà phê đòi hỏi người lao động phải có sức khỏe đặc biệt khi hoạt động ngoài trời nắng gắt người lao động cần trang bị cho mình những chiếc nón che nắng, chiếc nón được người dân Trung Quốc đội đi hái trà, trà được trồng nhiều ở vùng đất Phổ Nhĩ vốn là thủ phủ trồng trà. Thị trấn này bao quanh bởi những đồn điền trà mấp mô trên đồi núi. Nơi đây khá gần biên giới với Lào và là nơi sinh ra loại trà tinh túy nhất Trung Quốc. Nhưng khí hậu Phổ Nhĩ cũng rất phù hợp với cây cà phê. Vân Nam chiếm 95% sản lượng cà phê Trung Quốc. Và vùng này chiếm một nửa sản lượng cà phê tỉnh này.

Cây cà phê được mang đến nước này đã một thế kỷ, bởi những nhà truyền giáo người Pháp, với nhu cầu tiêu dùng cá nhân. Trong khi đó, cà phê thương mại chính thức bắt đầu từ 30 năm trước.

Phổ Nhĩ thuộc vùng cao và nắng gắt bất thường việc cung cấp bảo hộ lao động cho người làm vườn là rất cần thiết, tuy nhiên ngày nay những dụng cụ thô sơ đơn giản này người dân Trung Quốc không còn dùng nữa.

 

Đây là chiếc bình chứa cà phê để pha trà xuất phát từ truyền thống của quốc gia Nga, nhìn vô chúng ta khôn khỏi ngạc nhiên với cách thiết kế tinh xảo với hoa văn  nhẹ như dưới  chân bình là hình chân thú, Ấm Samovar Nga là một vật dụng truyền thống của Nga, đây là dụng cụ để đun nước sôi pha trà. Ban đầu nước trong ấm được đun sôi nhờ hệ thống ống đốt chứa than củi hồng đặt trong lòng ấm, về sau mới có các loại samovar đun bằng dầu hỏa và bằng điện Ở Trung Quốc từ lâu cũng có một vật dụng tương tự, tuy nhiên nó không dược dùng để đun trà. Do vậy ấm samovar (từ “samo-var” tiếng Nga có nghĩa là “tự đun/ tự nấu”) được coi là sản phẩm độc quyền của nước Nga.

Những chiếc ấm Samovar đầu tiên xuất hiện vào năm 1778 tại thành phố Tula là nơi sản xuất vũ khí nổi tiếng của Nga. Chúng được sản xuất tại xưởng của anh em nhà Lisitsưn xuất thân từ một gia đình thợ vũ khí như rất nhiều gia đình khác ở Tula. Cho tới năm 1803 trong xưởng sản xuất samovar nhà Lisitsưn đã có 26 người, gồm 4 thị dân lo việc kinh doanh, 7 người thợ vốn là thợ vũ khí đảm nhiệm khâu sản xuất, 2 xà ích và 13 nông dân phụ việc. Vốn của xưởng là 3 nghìn rúp, trong khi thu nhập lên tới 1500 rúp là một mức không nhỏ lúc bấy giờ. Xưởng sản xuất samovar nhà Lisitsưn ở Tula nổi tiếng với những mẫu mã samovar độc đáo: hình bình hoa, hình trống, hình quả trứng, đúc và khảm hoa văn, vòi hình cá heo, tay cầm hình móc trang trí hoa văn phong phú và bắt mắt…

Từ cuối thế kỷ 18 – đầu thế kỷ 19 các xưởng sản xuất samovar ở Tula đã phát triển thành nhà máy, mỗi nhà máy có công suất từ vài trăm đến vài nghìn ấm samovar mỗi năm. Tới năm 1850 chỉ riêng tại Tula đã có 28 nhà máy sản xuất samovar, mỗi năm xuất xưởng tổng cộng trên 120 nghìn ấm và nhiều đồ dùng bằng đồng khác nữa. Từ đó mới có câu tục ngữ: “Người ta không mang theo ấm samovar nhà mình khi tới Tula” («Со своим самоваром в Тулу не ездят») với lời khuyên không nên “chở củi về rừng”. Theo đó cũng vì đam mê kiểu dáng và nguyên tắc của chiếc bình mà mọi người đã mua về tận dụng để chứa và hâm nóng luôn cà phê ở trong bình này.