Author: adtcreative.vn

Bảo tàng thế giới cà phê tại sự kiện TECH SUMMIT 2018

Sáng 12/09/2018 tại Trung tâm tổ chức Hội nghị và Sự kiện Gem Center (TP.HCM) đã diễn ra “Hội nghị Công nghệ Tech Summit 2018” do tạp chí Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức, với sự tham gia của hơn 300 CEO, nhà quản lý, chuyên gia đến từ các đơn vị trong, ngoài nước và các vị quan khách quan tâm đến lĩnh vực công nghệ thông tin, tính an toàn, bảo mật thông tin, ứng dụng công nghệ trong sản xuất kinh doanh và đời sống, đặc biệt là và các xu hướng công nghệ trong thời đại 4.0.

Continue reading

Từ ngày 03/05 – 05/05/2018, trong khuôn khổ triển lãm Quốc tế Cà phê Việt Nam – Café show Vietnam 2018, Tập đoàn Trung Nguyên Legend đã giới thiệu những sản phẩm cà phê năng lượng, cùng không gian ảo Bảo tàng Thế giới Cà phêDự án Thành phố Cà phê đến cộng đồng yêu và đam mê cà phê trong nước và quốc tế.

Continue reading

Hồn Nghề

Nghề là thành tố thứ 4 trong triết lý về cà phê Việt Nam. Người xưa nói: “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” tức là làm một nghề giỏi thì bản thân một đời vinh quang. Mỗi người trong bổn phận và trách nhiệm làm người đều phải đóng góp cho xã hội cũng như thực hiện tự thân qua một con đường phù hợp nhất với mình. Đó là tài nghề cũng là sự nghiệp và giá trị của cá nhân trong tập thể. Đối với Trung Nguyên, hồn nghề không chỉ được thể hiện ở tình yêu cà phê, yêu công việc từ mỗi cá nhân mà còn cao hơn hết đó là tuyên ngôn của CHỦ TỊCH VŨ – Nhà sáng lập Tập đoàn Trung Nguyên Legend: “Kinh doanh không chỉ vì lợi nhuận thuần túy, lợi nhuận chỉ là hệ quả của quá trình phụng sự cộng đồng. Một công dân – doanh nhân hơn ai hết phải thượng tôn các giá trị nhân văn có tính bền vững”.

Hiện nay, 10% dân số thế giới xấp xỉ 700 triệu người đang sinh sống bằng việc trồng trọt, buôn bán và cung cấp các dịch vụ liên quan đến cây cà phê trong đó có khoảng 125 triệu hộ gia đình trực tiếp tham gia trồng cà phê và trực tiếp sản xuất. 80% sản lượng cà phê thế giới được cung cấp từ 25 triệu chủ nông trại gia đình. Lợi tức cà phê thu được từ 3 tỉ cây cà phê mỗi năm vào khoảng 15 tỉ đô la Mỹ cho các Thương vụ buôn bán sỉ và hơn 70 tỉ đô la Mỹ cho các Thương vụ bán lẻ.

Cà phê nằm trong top 6 sản phẩm mang lại giá trị kinh tế cao nhất theo thứ tự: Dầu hỏa – Khí ga – Cà phê – Vàng – Đường – Ngô. 80% cà phê trên thế giới được sản xuất chủ yếu tại các nông trại gia đình ở những nước đang phát triển. Nhưng việc tiếp thị và tiêu thụ cà phê lại tập trung ở những nước phát triển như Bắc Mỹ và Châu Âu là những nước không trồng cà phê. Đây là một nghịch lý sâu sắc nhất phản ánh lịch sử 500 năm bành trướng của Âu Mỹ cùng với chủ nghĩa thực dân và đế quốc.

(Theo WorldAtlas – 2017)

Brazil được coi là quốc gia có trữ lượng xuất khẩu hàng đầu và những nông trại tuyệt đẹp được cơ giới hóa cao sử dụng chủ yếu bằng máy móc. Brazil cũng được coi là quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất thế giới.

Việt Nam: Vua của cà phê Robusta. Năm 1990, Việt Nam sản xuất khoảng 1% lượng cà phê của thế giới nhưng đến năm 2014, Việt Nam đã vượt qua Brazil là nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới.

Cà phê Colombia nổi tiếng trên toàn thế giới có lẽ một phần do các quảng cáo nổi tiếng do các Liên đoàn quốc gia của Coffee Growers của Colombia thực hiện có sự đóng góp rất lớn của một nhân vật tên là Juan Valdez.

Sản xuất cà phê được du nhập vào Indonesia bởi thực dân Hà Lan và công việc sản xuất vẫn tiếp tục khi đất nước được tự do cho đến nay. Các đồn điền cà phê hiện nay bao gồm hơn 1 triệu ha lãnh thổ của Indonesia, với hơn 90% đất trồng trọt đang được làm việc bởi các nhà sản xuất quy mô nhỏ.

Ethiopia là chỉ dẫn địa lý của cà phê Arabica, hạt cà phê phổ biến nhất trên toàn thế giới. Nó là một phần không nhỏ của nền kinh tế của đất nước này, hơn một nửa thu nhập ngoại tệ của Ethiopia đến từ những hạt cà phê. Người ta ước tính rằng 15 triệu người đang làm việc trong ngành sản xuất cà phê tại Ethiopia.

Tại Ấn Độ, 80% sản lượng cà phê của Ấn Độ dùng cho mục đích xuất khẩu, với những khách hàng chính đến từ châu Âu và Nga.

Cà phê là một phần quan trọng của nền kinh tế Honduras. Quốc gia này là nhà sản xuất lớn nhất ở Trung Mỹ, ngành công nghiệp cà phê liên tục cung cấp việc làm và thu nhập cho một bộ phận lớn dân số, và nó có khả năng giữ nền kinh tế của quốc gia thịnh vượng và vượt qua cuộc khủng hoảng chính trị năm 2009.

Mexico chủ yếu là sản xuất hạt cà phê Arabica chất lượng cao và có trách nhiệm đối với đa số những nhà nhập khẩu cà phê đến từ Mỹ.

Uganda không phải là cái tên đáng nhớ trong ngành công nghiệp vàng đen nhưng là quốc gia có thu nhập hàng đầu từ xuất khẩu cà phê tại châu phi. Cà phê là một phần quan trọng của nền kinh tế Uganda, với phần lớn dân số làm việc trong ngành công nghiệp cà phê liên quan.

Guatemala có sản lượng cà phê khá ổn định trong vài năm qua. Cho đến ngày nay quốc gia này vẫn tiếp tục đẩy mạnh tiếp thị các sản phẩm cà phê của họ trên toàn thế giới.

(Theo Telegraph – 2017)

Chuỗi giá trị của ngành cà phê hiện nay bao gồm: các nhà sản xuất trồng tỉa, các nhà xuất/nhập khẩu (thu mua) trung gian, các nhà chế biến rang xay cà phê, các nhà buôn bán lẻ rồi đến người tiêu dùng cà phê. Cà nhà trung gian thường được gọi là con sói với hàm ý chê trách, họ mua trực tiếp hạt cà phê xanh từ nông dân với giá thấp hơn thị trường và giữ lại một số bách phân cao làm lợi nhuận cho họ. Với nguồn vốn tư bản họ dễ dàng có được những loại cà phê có phẩm chất từ khắp thế giới mà những người rang chế cà phê thông thường khó có được. Nước Mỹ có khoảng 1.200 nhà rang chế cà phê – những người trung gian được hưởng lợi nhiều nhất trong chuỗi giá trị này. Tỷ lệ tăng trưởng mỗi năm của chế phẩm rang xay đạt mức 20% tại Mỹ mang lại doanh thu 76.8 tỷ đô.

Các cửa hiệu cà phê là lĩnh vực phát triển nhanh nhất trong ngành kinh doanh nhà hàng. Các cửa hàng cà phê có tốc độ tăng trưởng hàng năm 7%. Mức tăng trưởng của thị trường lao động trong ngành đồ uống luôn ở vị trí cao nhất – vào khoảng 10% mỗi năm. Một điều thứ vị là cà phê thô nguyên liệu giảm giá xảy ra đồng thời với việc các quán cà phê đặc sản giá cao ngày càng trở nên phổ biến và hung thịnh. Theo Hiệp hội Cà phê đặc sản Mỹ, xu hướng uống cà phê tại Mỹ đã thay đổi. Nếu như năm 2008, tỷ lệ người trẻ từ 18-39 tuổi tại Mỹ uống cà phê là 16% thì năm 2016 con số này đã tăng lên 39%. Xu hưởng thưởng thức cà phê cũng đang được dần dần xác lập lại bởi những người trẻ với những yêu cầu cao hơn về chất lượng hạt, về không gian thưởng lãm, về tính cộng đồng, sự trải nghiệm đẳng cấp, những câu chuyện xung quanh cà phê và các sản phẩm thủ công nghệ thuật liên quan. Có thể nói không cường điệu rằng có một con người cà phê và một xã hội cà phê trưởng thành cùng với một giai đoạn văn minh, xứng đáng với tầm vóc sáng tạo của thế giới mới: toàn cầu kết nối trong hòa bình và thân thiện.

 

Hồn Cây

“Cây là người bạn không thể thiếu cho sự sống của con người”

Cây là thành phần quan trọng trong việc tạo dựng cảnh quan tự nhiên do chúng có tác dụng chống xói mòn và bảo vệ hệ sinh thái trong và bên dưới tán của nó. Cây cũng có vai trò quan trọng trong việc sản xuất ra ôxy và giảm carbon dioxide trong khí quyển cũng như điều hòa nhiệt độ mặt đất.
Cây cũng là nhân tố cơ bản trong thiết kế cảnh quan và nông nghiệp về mặt thẩm mỹ và mùa vụ (cây ăn quả). Gỗ khai thác từ cây dùng làm vật liệu xây dựng cũng như là nguồn năng lượng sơ cấp ở các quốc gia đang phát triển.

Không dừng lại đó, từ ngàn xưa trong tín ngưỡng nhân gian ta, có tục thờ cây. Bên gốc những cây cổ già, thường có một cái miếu nhỏ, đặt bát hương, những chiếc bình vôi, để hương khói cho Thần Linh. Do kinh nghiệm của cha ông truyền lại thì cây lớn có Thần lớn. cây nhỏ có Thần nhỏ:

Cà phê mang lại sự thịnh vượng và giàu có!

Theo truyền thuyết, năm 850, một người Arập chăn dê tên là Kaldi một hôm tự nhiên thấy bầy dê núi của mình cứ nhảy quẫng lên mừng vui. Sau anh chịu khó dò tìm mới biết rằng lũ dê đã ăn hạt càphê nên mới hưng phấn như vậy. Thế nhưng trong Luận Kinh Henoch, mật thư (không chỉ được giữ kín mà còn được trình bày với cách hành văn cố ý làm cho khó hiểu) được cho là do Henoch viết vào khoảng thế kỷ thứ III thuộc Nhà thờ Công Giáo ở Ethiopia có đoạn miêu tả về Vườn Địa đàng và Cây hiểu biết ở Ethiopia thời tiền sử với quang cảnh dễ làm liên tưởng đến khu rừng cà phê mùa hoa ra trái. Phải chăng chuyện phạm tội tổ tông của Adam và Eva khi ăn trái táo để rồi phải thành người là một biến thể hoán dụ được thần tích hóa từ chuyện các đấng tiên sơ của con người hiện đại là loài người đứng thằng – Homo Erectus ở Ethiopia ăn trái cà phê như chất xúc tác để dần biến thành con người nhận biết – Homo Sapiens?

Nguồn gốc cây Cà phê và các chủng loại cà phê trên thế giới

Cà phê là loại cây vùng nhiệt đới được sinh trưởng và mọc dại ở Kefa hoặc Kaffa tại vùng Tây Nam của xứ Ethiopia ở Bắc Châu Phi. Tên của hạt cây này mang theo địa danh đó. Có truyền thuyết khác nói rằng Cà phê là do tiếng gốc Arabic là qahwah.

Cà phê là tên một chi thực vật thuộc họ Thiên thảo (Rubiaceae). Chi cà phê bao gồm nhiều loài cây lâu năm khác nhau. Tuy nhiên, không phải loài nào cũng chứa caffein trong hạt, một số loài khác xa với những cây cà phê ta thường thấy. Duy chỉ có hai loài cà phê có ý nghĩa kinh tế. Loài thứ nhất có tên thông thường trong tiếng Việt là cà phê chè (tên khoa học: Coffea arabica), đại diện cho khoảng 61% các sản phẩm cà phê trên thế giới. Loài thứ hai là cà phê vối (tên khoa học: Coffea canephora hay Coffea robusta), chiếm gần 39% các sản phẩm cà phê. Ngoài ra còn có Coffea liberica và Coffea excelsa (ở Việt Nam gọi là cà phê mít) với sản lượng không đáng kể.

Cây cà phê chè có thể cao tới 6 m, cà phê vối tới 10 m. Tuy nhiên ở các trang trại cà phê người ta thường phải cắt tỉa để giữ được độ cao từ 2–4 m, thuận lợi cho việc thu hoạch. Cây cà phê có cành thon dài, lá cuống ngắn, xanh đậm, hình oval. Mặt trên lá có màu xanh thẫm, mặt dưới xanh nhạt hơn. Chiều dài của lá khoảng 8-15 cm, rộng 4–6 cm. Rễ cây cà phê là loại rễ cọc, cắm sâu vào lòng đất từ 1 đến 2,5 m với rất nhiều rễ phụ tỏa ra xung quanh làm nhiệm vụ hút chất dinh dưỡng nuôi cây.

Hoa cà phê có màu trắng, có năm cánh, thường nở thành chùm đôi hoặc chùm ba. Màu hoa và hương hoa dễ làm ta liên tưởng tới hoa nhài. Hoa chỉ nở trong vòng 3 đến 4 ngày và thời gian thụ phấn chỉ vài ba tiếng. Mùi hương ngọt ngào của hoa cà phê quyến rũ bầy ong khắp nơi bay về vờn phấn, hút mật để tạo ra những giọt mật thơm ngon, đặc sánh. Và trong khung cảnh thơ mộng ấy, từng đàn bướm đủ màu sắc cũng theo hương hoa cà phê đua nhau kéo đến bay lượn khắp trời Ban Mê, tạo nên một bức tranh ngây ngất lòng người. Loài hoa ấy, hương sắc ấy là một nét đẹp đặc trưng của vùng đất đỏ bazan, đem lại cái hồn cho mùa hoa cà phê.

Hoa thường nở 2-3 đợt, cho đến tận cuối tháng 3. Hoa nở một lượt, khoảng một tuần rồi tàn. Nhiều người thường lầm tưởng quả cà phê phải có mùi thơm đặc trưng. Tuy nhiên, thực tế cà phê chỉ có mùi sau khi rang chín. Do vậy, trong quá trình sơ chế, mỗi gia đình lại có những bí quyết riêng tạo độ thơm cùng hương vị đậm đà. Sau mùa hoa, những quả café nhỏ tí nhú lên mơn mởn, xanh ngắt. Và như thế, với những người Tây Nguyên mùa hoa cà phê cũng thường là mùa xuân, của đoàn tụ, gia đình và bạn bè, của mong đợi về một vụ bội thu, của những dự tính cho mùa tháng 3 lễ hội cà phê được tổ chức 2 năm 1 lần. Lễ hội là một hoạt động lễ nghi mang tính chất văn hóa truyền thống trong đời sống sinh hoạt cộng đồng của người Việt Nam. Không những vậy, lễ hội còn là nơi bảo tồn, trao truyền văn hóa giữa các thế hệ, góp phần tạo ra sự đa dạng văn hóa – là kho tàng quý giá của đất nước. Thông qua lễ hội, nhu cầu văn hóa và tâm linh của cộng đồng được thỏa mãn, các truyền thống và phong tục tập quán được duy trì.

Một cây cà phê trưởng thành có từ 30.000 đến 40.000 bông hoa. Ngay từ khi cây cà phê ra hoa kết quả người ta đã có những đánh giá đầu tiên về vụ mùa cà phê. Ở các nước sản xuất cà phê lớn điều này đặc biệt quan trọng trong việc đưa ra những nhận định về giá cả và thị trường. Tuy vậy những đợt rét đậm hoặc hạn hán có thể làm đảo lộn mọi sự tính toán và đẩy thị trường vào tình thế hoàn toàn khác.

Khi thiên thời, địa lợi, lại nhờ có ong bướm, côn trùng góp phần đưa hương thụ phấn đã giúp cho quá trình thụ phấn cây cà phê. Sau khi thụ phấn quả sẽ phát triển trong 7 đến 9 tháng và có hình bầu dục, bề ngoài giống như quả anh đào. Trong thời gian chín, màu sắc của quả thay đổi từ xanh sang vàng rồi cuối cùng là đỏ. Quả có màu đen khi đã chín nẫu. Do thời gian đơm hoa kết trái lâu như vậy mà một vụ cà phê kéo dài gần một năm trời và có thể xảy ra trường hợp trên một cây vừa có hoa, vừa có quả.

Thông thường một quả cà phê chứa hai hạt. Chúng được bao bọc bởi lớp thịt quả bên ngoài. Hai hạt cà phê nằm ép sát vào nhau. Mặt tiếp xúc giữa chúng là mặt phẳng, mặt hướng ra bên ngoài có hình vòng cung. Mỗi hạt còn được bảo vệ bởi hai lớp màng mỏng: một lớp màu trắng, bám chặt lấy vỏ hạt; một lớp màu vàng rời rạc hơn bọc ở bên ngoài. Hạt có thể có hình tròn hoặc dài, lúc còn tươi có màu xám vàng, xám xanh hoặc xanh. Thỉnh thoảng cũng gặp nhưng quả chỉ có một hạt (do chỉ có một nhân hoặc do hai hạt bị dính lại thành một).

Hạt cà phê, với hình trạng vết nẻ giữa hai vành, được vinh hiển trong thần thoại Oromo như chiếc tai của thần linh. Đó là “chiếc tai thứ ba” được sử dụng lần đầu tiên bởi nhà phân tâm học Theodor Reik để nói về khả năng lắng nghe và thấu cảm những điều nằm sau ngôn ngữ và bên trên âm điệu. Hình tượng này cũng đã từng được nhắc đến trong Ai Cập cổ đại, thời Tân Vương Triều (từ 1570 đến 1070 trước Công nguyên) trong tín ngưỡng Thần Tối Cao Amon-Rê là vị thần có ba đôi tai để nghe được cùng lúc những tiếng vọng của Cõi Trời, Cõi Đất và Cõi Âm đến đồng thời từ quá khứ hiện tại và tương lai.

Trong tín ngưỡng dân gian Ethiopia cổ đại, hạt cà phê với vết nẻ giữa hai vành còn biểu trưng cho âm hộ phụ nữ – là một trong những biểu tượng đầu tiên được con người tôn thờ cách đây những 32.000 năm. Thuật ngữ này được giới khoa học nhân văn sử dụng là sinh thực khí nữ – Yoni – để nói về cánh cửa mở ra thế giới vừa mới vừa siêu vượt. Nhờ khả năng sinh đẻ của người phụ nữ, từ âm hộ có thể ra đời những nhân kiệt kỳ tài làm đời sống tốt đẹp hơn và là nơi cảnh giới siêu Nhiên thông linh với cảnh quan trần tục. Hạt cà phê với hình dạng đó đã trở thành biểu trưng cho sinh thực khí nữ – cửa vào cõi thiêng.

Niên vụ được tính từ tháng 10 đến hết tháng 9 năm sau (theo dương lịch). Thời gian thu hoạch tại các tỉnh Tây Nguyên (là nơi sản xuất khoảng 80% tổng sản lượng của Việt Nam) thường kéo dài trong 4 tháng, tính từ cuối tháng 10 đến hết tháng 1.

Quê hương đầu tiên của cà phê là Ethiopia, Brazil là quốc gia xuất khẩu cà phê nổi tiếng thế giới, tuy nhiên Buôn Ma Thuột – vùng đất Tây Nguyên huyền thoại của Việt Nam mới chính là vựa cà phê Robusta ngon nhất thế giới đưa Việt Nam trở thành một trong những nước có lượng cà phê xuất khẩu cao nhất thế giới, đồng thời sở hữu những điều khác biệt mang giá trị tinh thần, tâm linh bản địa độc đáo tạo nên những hạt cà phê tuyệt ngon.

Ngày nay khi nói đến đi uống cà phê là người ta liên tưởng đến những ly cà phê thơm nồng, nóng hổi hay mát lạnh, nhưng trong quá khứ người ta không biết uống từ hạt cà phê mà uống bằng lá cà phê và tập tục này vẫn còn lưu giữ ở Ethiopia cho đến ngày nay. Các nhà thực vật học thuộc Viện hoàng gia Kew, London và các nhà nghiên cứu ở Montpelier, Pháp đã xác nhận trà được làm từ lá cà phê là thức uống có lợi nhất cho sức khỏe. Lá của cây cà phê ít đắng hơn so với trà, cường độ kích thích cũng không mạnh bằng cà phê. Trong lá cây cà phê chứa ít cafein so với trà truyền thống, đồng thời nó còn chứa chất chống oxy hóa và chống kích động. Có khoảng 7 loại cây cà phê có nồng độ chất mangiferin cao (chất hóa học có trong xoài) có tác dụng chống kích động, giảm cholesterol, bảo vệ nơron não và giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường. Bên cạnh đó, chất chống oxy hóa trong lá cà phê lại có tác dụng chống các bệnh tim mạch và ung thư.

Cây cà phê là loại cây sử dụng được hết mọi yếu tố của nó. Khi già cỗi tuổi thay cây theo vòng đời 15 – 20 năm, người ta thường dùng gỗ thân cây cà phê để chế tác thành các vật dụng như: liễu việt thư pháp, giá in hình phong cảnh, hộp đựng mứt tết, khung hình nghệ thuật, đèn ngủ nội thất, đồng hồ để bàn, bàn trang điểm…Đến cả bã cà phê, cũng còn là một loại phân bón tuyệt vời cho đất vì nó chứa nhiều đạm, magie và kali. Bã cà phê đặc biệt thích hợp với cây trồng ưa môi trường đất axit như hoa hồng, khoai lang, khoai tây, cà rốt, bắp cải, hành tây, nha đam, cây thường xanh và cây hoa đỗ quyên…

Làm đẹp – Ngoài tác dụng tẩy tế bào chết, các thành phần dinh dưỡng, vitamin, khoáng chất, bã cà phê còn nuôi dưỡng da khỏe mạnh, kích thích sản sinh tế bào mới và cải thiện sắc tố hữu hiệu, từ đó làn da sạm đen thiếu sức sống nhanh chóng trở nên trắng hồng rạng rỡ, khử mùi…

Đối với nhiều dân tộc sống nhờ vào cây cà phê, thì cây cà phê đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa, tâm linh. Theo truyền thuyết của Oromon, dân tộc đầu tiên biết chiết xuất các thành phẩm từ cây cà phê cách đây ba ngàn năm, quê quán phía đông của Ethiopia, đã ghi lại rằng cây cà phê đầu tiên trên trái đất nảy mầm là từ những giọt nước mắt của thần linh, tích tự tự muôn trùng, rơi xuống từ thinh không, tiếc cho phận người tài hoa mà sao như hạt bụi phù du. Do vậy, rễ cây cà phê bám vào đất mà gốc lại từ trời. Hai chiều kích trời-đất/cao-sâu đã nằm ngay tận bản lai của cây cà phê tự thời cổ tích. Cao và sâu không chỉ là sự đối lưu giữa trời và đất mà theo thần thoại Oromo còn là ngụ ngôn về hướng vọng của phận làm người. Cho đến nay, trong cộng đồng người Oromo vẫn còn lưu truyền tập tục trồng một cây cà phê bên cạnh mộ người vừa mới khuất để tỏ lòng tưởng vọng công đức.

Hồn Nước

“Nước khởi nguồn của cuộc sống”

Nước có vai trò vô cùng quan trọng đối với con người cũng như bất cứ sinh vật nào trên trái đất. Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá nhưng không vô tận. Hơn 70% diện tích của trái đất là nước, lượng nước trên trái đất khoảng 1.38 tỷ km3 và nước chiếm ¾ trọng lượng cơ thể.

Nước trong tiềm thức con người có ý nghĩa rất quan trọng. Những ý nghĩa tượng trưng của nước có thể quy về ba chủ đề: nguồn sống, phương tiện thanh tẩy, trung tâm tái sinh. Từ cổ xưa các nhà Triết học đã đưa ra luận điểm nước là một trong 4 nguyên tố cấu tạo lên vật chất. Trong đó phải kể đến nhà Nhà triết học Hy Lạp Empedocles.

Theo triết học Phương Đông, tất cả mọi vật chất cụ thể được tạo nên trong thế giới này đều do năm yếu tố ban đầu là Thủy (nước), Mộc (cây), Hỏa (lửa) Kim (kim loại), Thổ (đất).

Nước được coi là biểu tượng phổ biến về sự phì nhiêu và khả năng sinh sản dồi dào. Người Việt Nam xem nước là của trời làm ra thóc lúa làm ra của cải. Họ rất coi trọng chức năng tái sinh của nước, đối với họ, nước là vị thuốc và là đồ uống trường sinh bất tử. Việt Nam có câu “nhất nước – nhì phân – tam cần – từ giống”, qua đó chúng ta thấy được vai trò của nước hết sức quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và trồng trọt như lúa gạo và cây cà phê. Theo thống kê thì đối với cây cà phê 1 năm tuổi cần khoảng 120 lít nước/gốc, cây cà phê năm 2 cần 240 lít nước/gốc và năm 3 là 320 lít nước/gốc.

Nước gắn liền đời sống của con người, từ lúc sinh ra cho lúc về với đất mẹ. Tại Tây Nguyên, đồng dân tộc Êđê có lễ đặt tên con. Khi đứa con ra đời phải có hai bà đỡ. Một là bà đỡ lưng cho người đẻ (pê giang). Hai là bà đón thai ra, bế hài nhi (mạ bôi). Ba mạ bôi có vai trò rất quan trọng trong việc đuổi tà ma bảo vệ cho đứa trẻ, đặc biệt đặt tên cho đứa trẻ. Khi đứa trẻ ra đời bà nói ngay: Kao dê! Kao dê!”(Của tôi! Của tôi). Tức là đứa bé đã có chủ để thần Dang Bơ-riêng (Thần Ác), không làm gì được.

Đứa bé ra đời được một ngày thì gia đình làm lễ Pơ-răp Dun (lễ nhập hồn, đặt tên). Trước khi tiến hành lễ người ta làm một lễ cúng Yang hah Buê (thần Thiện để che chở sinh mệnh cho đứa trẻ và người mẹ). Trong lễ cúng ngoài các vật dụng tâm linh Người Êđê chuẩn bị một chén bằng đồng đựng nước sương sớm hứng từ lá cà phê. Giọt sương được coi là hiện thân của linh hồn tổ tiên, sẽ nhập thân xác đứa trẻ sơ sinh chưa có linh hồn. Thầy cúng khấn xong, bà đỡ cầm quả cà chấm giọt sương để gần miệng đứa trẻ. Bà lần lượt đọc tên tổ tiên của đứa trẻ, đọc tới tên nào mà đứa trẻ thè lưỡi ra liếm, tức là đã bằng lòng nhận tên đó.

Nguồn nước là sống còn vì vậy Nguồn nước cũng là nguyên nhân dẫn đến các cuộc chiến tranh sắc tộc và giữa các quốc gia với nhau. Ước tính 330 triệu người, 1/4 dân, đang bị ảnh hưởng bởi hạn hán nghiêm trọng trong nhiều năm qua. Báo cáo mới đây của Ngân hàng thế giới (WB) về mối liên hệ giữa biến đổi khí hậu tới nguồn nước và phát triển kinh tế chỉ ra rằng, nguồn nước khan hiếm hoặc không ổn định làm giảm tăng trưởng kinh tế, dẫn đến phong trào di cư và nguyên nhân của nhiều vụ xung đột hay nội chiến.

Sử sách ghi lại, một trong những cuộc chiến liên quan đến nguồn nước lần đầu tiên xảy ra khoảng 4.500 năm trước đây, khi đất nước Lagash – nằm giữa sông Tigris và Euphrates ở Iraq ngày nay – tranh chấp nguồn nước với quốc gia láng giềng Umma. Cạnh tranh về nguồn nước cũng gây ra các vụ bạo động ở Trung Quốc cổ đại và bất ổn chính trị tại Ai Cập thời đại các vua Pharaon.

“Nước” không chỉ là “Nước” mà nước có năng lực có tâm hồn riêng của mình. Nước là biểu tượng của những năng lượng vô thức, của những sức mạnh không định hình của tâm hồn, của những động cơ thầm kín và không cảm nhận thấy.

Tiến sĩ Masaru Emoto, Chủ tịch của Hội Hado Quốc tế – International Hado Membership gọi tắt là IHM đã làm thí nghiệm, Nước được nhỏ vào 100 chiếc đĩa và để vào một máy ướp lạnh trong 2 giờ đồng hồ. Sau đó các tinh thể nước đóng băng được đặt dưới một kính hiển vi để chụp ảnh chóp của nước đá với độ phóng đại từ 200 đến 500 lần. Vào lúc ngay trước khi nó tan trở lại thành nước (do tăng nhiệt độ giữa -5°C và 0°C) nó tạo thành một hình y hệt như chữ “Nước” trong tiếng Hán. Có thể là con người thời cổ đại đã biết điều này và tạo ra chữ “Nước” trong tiếng Hán dựa trên thông tin này? Điều này rất đáng để cho chúng ta nghiên cứu lại nguyên từ học của chữ Hán.

Nước biết nghe nhạc. Tinh thể nước đóng băng sau khi được nghe bản Pastorale – khúc nhạc đồng quê, một trong những bản nhạc giao hưởng nổi tiếng nhất của Beethoven. Trông nó sáng chói, mới mẻ và vui tươi. Tinh thể tuyệt đẹp này chứng tỏ rằng bản nhạc hay có ảnh hưởng tích cực đến nước. Tinh thể đóng băng sau khi nghe bản “Farewell Song” – “Bài hát chia tay” của Chopin. Mỗi ly nước, ly cà phê sẽ có cảm nhận ngon, vui và hạnh phúc do loại nước tươi vui hạnh phúc mang lại.

Nước có cảm xúc. Ở một thí nghiệm khác sau khi cho nước xem chữ “Tình yêu/Biết ơn” đã phát hiện đây là tinh thể tuyệt đẹp. Thực sự là không có gì quan trọng hơn tình yêu và lòng biết ơn trên thế giới này. Bằng cách biểu lộ tình yêu và lòng biết ơn nước ở quanh chúng ta và trong cơ thể chúng ta thay đổi rất đẹp. Tiếp theo ông dùng từ cho nước xem là: “Mày làm tao phát ốm. Tao sẽ giết mày”, đây là những từ mà thanh niên ngày nay hay dùng. Kết quả là hình dạng của tinh thể nước trở nên xấu. Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta hãy đối xử tôn trọng, yêu thương và thiện lành với nhau sẽ mang lại cuộc sống hòa bình, giàu có và hạnh phúc.

Nước là văn hoá tín ngưỡng truyền thống. Đông Nam Á trong đó có Việt Nam trên nền tảng cơ sở kinh tế là nghề trồng trọt lúa nước vùng nhiệt đới. Từ nền tảng văn minh nông nghiệp này nảy sinh những cấu trúc xã hội làng xã và những kết cấu thượng tầng, những nghi lễ và lễ hội cổ truyền liên quan đến sản xuất nông nghiệp với những nét tương đồng.

Tục cúng nguồn ngước của người Người Dao Ðỏ, Tây Bắc – Việt Nam. Họ quan niệm, nước là nguồn mạch vũ trụ, liên kết các tầng thế giới, duy trì sự sống của con người. Trong sách cổ của người Dao ghi “nước được ban từ trên trời xuống mặt đất và các con sông”, bởi vậy, người Dao Ðỏ quan niệm, đáy sông là tầng thứ ba của thế giới, nơi thủy thần ngự trị. Con người khi chết, muốn được về giới tiên phải vượt qua chín suối. Vì vậy, trong ngày làm ma, cắt tang, con cháu dâng lên Om tòi (bàn thờ tổ tiên) bát nước, tẩy rửa mọi bụi bẩn cho linh hồn người chết. Người Dao Ðỏ thường làm lễ cúng thần nước ở miếu cầu thần, giữa những khu ruộng bậc thang, cách xa bản, xa miếu thờ Thành Hoàng làng, để cầu xin sự hỗ trợ của thần nước, thần đất, thần nông, phù hộ cho họ đắp đập, đưa nước về sinh hoạt, canh tác thuận lợi.

Lễ cúng Bến nước của người Tây Nguyên. Lễ cúng Bến nước là một sinh hoạt cộng đồng đậm chất văn hóa của người Tây Nguyên cầu cho nước sạch, nước trong, mang lại sức khỏe cho buôn làng. Theo phong tục, hàng năm, cứ sau khi thu hoạch mùa màng, chủ bến nước chuẩn bị các đồ lễ như: rượu cần, heo, gà… làm lễ tạ ơn thần nước đã cho gia đình và buôn làng nguồn nước sạch phục vụ đời sống; tạ ơn thần linh phù hộ cho dân làng được khỏe mạnh… Đồng thời, cầu mong thần nước tiếp tục phù hộ cho dân làng năm sau được nhiều may mắn hơn. Cộng đồng, người Tây Nguyên chọn ra những người đàn ông tài giỏi của buôn làng dựng cây nêu. Để tránh súc vật chạy qua, cây nêu sẽ được chọn dựng ở vị trí cao ráo trước nhà Rông. Một số người khác sẽ phải đi lên đầu nguồn nước để kiểm tra, đảm bảo nguồn nước trong lành sẽ chảy về làng. Trước khi tiến hành nghi lễ, từ sáng sớm, già làng sẽ đánh những hồi chuông dài báo cho buôn làng biết là sắp tổ chức lễ cúng bến nước. Bến nước hôm đó được trang hoàng với cổng chào bằng lá cây, cỏ lá dài, treo đồ vật trang trí.

Trung Nguyên tự hào phục dựng văn hóa truyền thống của bà con đồng bào Êđê sau 31 năm bị lãng quên. Ngày 20/03/2017, những Người Anh Chị Em Trung Nguyên tại M’Đrăk với tinh thần phụng sự đã tổ chức Lễ cúng bến nước truyền thống Ê-đê Đrao, giúp bà con đồng bào buôn M’Um, xã Krông Jing, huyện M’Đrăk khôi phục văn hóa truyền thống sau hơn 31 năm bị lãng quên trong sự mong mỏi và háo hức vô bờ.

“Đã hơn 31 năm nay tôi mới lại được làm nghi lễ cúng thần nước cho bà con mình. Tôi vui lắm, không làm sao nói hết. Đây là nghi lễ cầu cho tất cả buôn làng được may mắn, sức khỏe, mùa màng tươi tốt, yêu thương và đoàn kết với nhau. Tôi xin cảm ơn công ty Trung Nguyên. Mong rằng từ đây đồng bào chúng tôi sẽ tiếp tục nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ để những văn hóa truyền thống tốt đẹp này không bị mất đi mai một”. (chia sẻ của Y Gút Byă (tên thường gọi là Aê Dịu, Buôn M’Um) – người chủ trì nghi Lễ cúng bến nước).”

Nước là Quốc gia là Dân tộc.

Người Việt cổ sinh hoạt cộng đồng, lúc thời vụ rảnh rang, những đêm giữa thu, trăng thanh gió mát, rất thích hợp cho những sinh hoạt tập thể, cộng đồng tưng bừng rộn rịp trang trọng. Trống đồng Đông Sơn đã khắc vẽ nhiều hình ảnh hiện thực và sinh động về những ngày, những đêm hội mùa thu xa xưa. Nghi lễ hiến tế, cầu cúng thần Nước cầu mong mưa thuận cho cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu: trên những chiếc thuyền lớn có sàn cao, chở trống đồng cầu mưa, bình đồng đựng nước thiêng tượng trưng cho mưa có những người chèo lái hoá trang và vũ trang, người đánh trống, người cầm cung tên, người cầm giáo lao, có cả chó canh giữ một người bị trói và sắp bị hi sinh làm vật hiến tế cho thần Nước.

Nước là yếu tố vần xoay, chu chuyển từ suối, sông, biển, thành hơi rồi mây, mưa, mù sương và quay trở lại lòng đất để tuần hoàn. Cũng giống như con người có sinh – lão – bệnh tử luân hồi. Nước có hồn, có cảm xúc, có tâm linh. Bảo tồn và ứng xử với nước một cách thông minh, sáng suốt, tôn trọng và chuẩn mực chính là bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta.

Hồn Đất

“Cà phê là Báu vật của Trời đất; Di sản của Nhân loại và Giải pháp của Tương lai”
(CHỦ TỊCH ĐẶNG LÊ NGUYÊN VŨ – Nhà sáng lập Tập đoàn Trung Nguyên Legend)

Vùng đất “ Đại ngàn” mang tên Buôn Ma Thuột tại Việt Nam thời xa xưa được coi là đất thiêng của người Ê Đê, đứa con cội nguồn của vùng đất đỏ này luôn tôn thờ vùng đất của mình, người dân ở đây sử dụng thổ ngữ của sắc tộc Rhadé. “Buôn” nghĩa là làng, ấp. “Ma” nghĩa là cha. “Thuột” là tên con của vị tù trưởng Êdê, là người lãnh đạo dân chúng chống lại quân Cam Bốt và Ai Lao thường tràn qua biên giới cướp phá. Vì đất rất quan trong đối với người dân bản địa như vậy nên người dân ở đây đặt tên cho các địa danh vùng đất này những tên gọi nổi tiếng gắn liền với đời sống của mình như Cư M’Gar, trong đó Cư là núi có liên quan đến đất ( quả núi ngược) và những con sông mang tên k’rông Ana, krông k’Nô, dòng sông Sêrêpôk chảy ngược là những nguồn cung cấp nước cho cây Cafe. Địa danh “Buôn Ma Thuột” được đặt tên để tưởng nhớ vị tù trưởng anh hùng tên ra cà phê Robusta tuyệt hảo nhất trên thế giới.
Theo quan điểm triết học Phương Đông Thiên Địa Nhân là 3 thành tố quan trọng nhất của Vũ trụ nằm trong vòng tròn khép kín, nghĩa là mọi sự biến đổi, sinh sôi nảy nở và hư hỏng đều trong vòng tròn không thay đổi này.

Đất là vật thể tự nhiên được hình thành lâu đời từ khi có sự sống xuất hiện trên quả đất, là kết quả của quá trình hoạt động tổng hợp của năm yếu tố bao gồm: Mẫu thạch, Sinh vật, Khí hậu, Địa hình và Thời gian. Đất đã được gọi là da của Trái đất khi nó liên kết với thạch quyển, thủy quyển, bầu khí quyển và sinh quyển. Thuật ngữ pedolith, được sử dụng phổ biến để chỉ đất, nghĩa đen là dịch mặt đất đá. Đất bao gồm một giai đoạn rắn của khoáng chất và chất hữu cơ (ma trận đất), cũng như một giai đoạn xốp chứa khí (khí quyển đất) và nước (dung dịch đất) Theo đó, đất thường được coi như là một hệ thống gồm ba chất rắn, chất lỏng và khí.

Đất là sản phẩm ảnh hưởng của khí hậu, độ cao (độ cao, hướng, và độ dốc của địa hình), sinh vật, và các vật liệu gốc (khoáng chất ban đầu) tương tác theo thời gian. Đất liên tục trải qua quá trình phát triển bằng nhiều quy trình vật lý, hóa học và sinh học, bao gồm thời tiết với sự ăn mòn liên quan. Do tính phức tạp và vùng kết nối nội bộ mạnh mẽ đã được các nhà sinh thái học đất coi là một hệ sinh thái. Tuy nhiên, khi loài người phát triển và va chạm vào vùng lãnh thổ và khai hoang đất thì từ đó yếu tố con người đã làm thay đổi khá nhiều về tính chất vật lý, hóa học và sinh học của đất tự nhiên để trồng công nghiệp như ngày nay đặc biệt là những cây công nghiệp chủ chốt như Cà Phê. Đất trồng cà phê tốt nhất là đất đỏ bazan bằng phẳng của vùng đôì núi cao nguyên, đất này vốn là thứ nham thạch ở trong lòng đất được nóng chảy dưới áp suất và nhiệt độ cao tới vài ngàn độ bách phân. Nham thạch trào dâng khỏi những miệng núi lửa từ 160 triệu năm qua hấp thụ chất dinh dưỡng tốt nhất như photpho, nito, kali, canxi, kẽm và boron để trở thành loại đất trồng màu mỡ cung cấp cho mỗi hạt café của Tây Nguyên một sức sống đặc biệt.

Đất quan trọng như vậy nên không chỉ làm vật dụng gia đình mà còn đi vào đời sống văn hóa tinh thần như trong văn học sử thi, như Trường ca Đẻ đất Đẻ nước của người Mường, Trường Ca Đam san của người Ê Đê.

Hành trình lịch sử của cà phê là một câu chuyện dài và chưa có hồi kết. Nhưng bây giờ sẽ là lúc các bạn được thấy những gì tinh tế nhất, thú vị nhất của cà phê, sẽ hiểu vì sao mà CHỦ TỊCH ĐẶNG LÊ NGUYÊN VŨ – Người sáng lập Tập đoàn Trung Nguyên Legend nói Cả vũ trụ trong 1 tách”.

Ở Trung Nguyên, chúng tôi nhìn thế giới cà phê qua 3 nền văn minh cà phê Ottoman, văn minh cà phê Roman và văn minh cà phê Thiền. Nếu như văn minh cà phê Thiền là tổng hòa của đời sống tinh thần, triết lý, thiên nhân địa hợp nhất hài hòa của phương Đông thì văn minh  cà phê Roman lại gắn với cuộc cách mạng công nghiệp, sự phát triển của máy móc – “sản phẩm” của lối sống hiện đại phương Tây. Giao hòa Đông Tây là văn minh  cà phê Ottoman coi cà phê là thức uống gắn với đời sống tâm linh của con người, coi tâm linh như là cái gốc của cà phê.

  1. VĂN MINH CÀ PHÊ OTTOMAN

Cây cà phê được phát hiện lần đầu tiên tại Ethiopia. Tên gốc của Ethiopia là Abyssinia và là nước độc lập cổ xưa nhất của châu Phi, đã được văn minh Ai Cập biết đến từ hai ngàn năm trước công nguyên. Ethiopia là một địa điểm cổ sơ nhất mà các nhà khoa học biết được về sự sinh tồn của loài người thông minh (homo-sapiens), cũng là một trong những vương quốc cổ kính nhất. Homer đã nhắc tới Ethiopia hai lần trong sử thi Iliad và ba lần trong Odyssey. Đây là xứ nằm trên đường giao lưu của châu Phi, châu Á, và châu Âu. Có thể nói, với nền văn hóa đặc sắc đa sắc tộc, đa tôn giáo, đa ngôn ngữ, Ethiopia là một trong những thử nghiệm giao lưu toàn cầu hóa lý thú nhất cho châu Phi và toàn thế giới. Ethiopia nằm ở đông bắc châu Phi, đây là nơi phát tích cây cà phê arabica trong những thung lũng hoang vắng đất đỏ của núi lửa xa xưa và sương mù ở độ cao hàng ngàn thước trên mặt biển. Từ cổ xưa, dân địa phương đã dùng lá, ăn trái, nấu hạt cà phê làm thức ăn và thức uống bình dị. Theo truyền thuyết dân gian, cà phê được coi là những giọt nước mắt của Thượng đế nhỏ xuống thi thể của các bà mo, thầy phù thủy. Bộ tộc Oromo ngày nay còn giữ phong tục là trồng một cây cà phê trên mộ của những thầy mo. Cà phê khởi đầu ngoài việc để cúng tế thì chủ yếu là để ăn bằng cách giã hạt cà phê thành bột, trộn với mỡ, sữa hoặc bơ, viên thành dạng tròn sấy khô nhằm làm lương thảo nạp năng lượng cao trên đường hành quân cho các chiến binh Ethiopia. Những sử thi lừng lẫy về các đế chế của Ethiopia suốt thời cổ đại gắn liền với thời kỳ mà duy nhất chỉ có Ethiopia biết vận dụng công năng của cà phê. Một trong những món quà trân quý mà Nữ Hoàng Sheba của Ethiopia và Yemen mang tặng Hoàng đế Salomon (970-931 trước CN) ở thành Jerusalem đã được không ít hoc giả phương Tây luận đoán là hạt cà phê để pha thành thức uống đã được thời ấy nhìn nhận là có dược chất tạo sự khai thông tinh thần.

Ethiopia không chỉ là vùng đất quê nhà của cà phê, mà còn là nơi cà phê được xem như biểu tượng của quyền lực, một thức uống của thần linh, nghi thức cà phê là một lễ nghi tâm linh. Khi tiến hành một nghi thức cà phê, người Ethiopia cho rằng họ đang giao tiếp với các đấng tối cao.

Một bộ phận những người ưa thích cà phê sớm nhất là các tín đồ theo đạo Hồi. Văn minh cà phê Ottoman là văn minh cà phê của thế giới Hồi giáo, nơi cà phê được xem là loại thức uống thần thánh mang lại sự tỉnh táo, kích thích sáng tạo và củng cố đức tin cho tín đồ Hồi giáo.

Cà phê phát triển và trở nên thực sự phổ biến vào năm 1575 khi quán cà phê đầu tiên được mở tại Istabul. Tại đây, cà phê được cung cấp như “sữa cho những người chơi cờ và những người suy tư”. Đến giữa thế kỷ 17, cà phê đã xâm nhập vào triều đình đế quốc Ottoman với những viên quan phụ trách cà phê có đến hơn 40 người phụ tá pha chế và dọn hầu cho hoàng đế và các cận thần. Ở giai đoạn cực thịnh nhất, Đế chế Ottoman trải rộng qua ba châu lục và bao phủ một phạm vi rộng các nền văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ. Bất chấp những khác biệt văn hóa này, đế chế vẫn phát triển thịnh vượng trong 623 năm, từ 1299 đến 1922 sau Công nguyên.

Từ những ngày của đế chế Ottoman đến nay, cà phê đã đóng một vai trò quan trọng trong lối sống và văn hoá Thổ Nhĩ Kỳ. Việc phục vụ và uống cà phê đã có một ảnh hưởng sâu sắc đến tục lệ, phong tục tập quán, liên quan đến chính trị, xã hội, cầu nguyện, và truyền thống hiếu khách qua nhiều thế kỷ. Mặc dù nhiều nghi lễ với cà phê không còn phổ biến trong xã hội ngày nay, cà phê vẫn là một phần không thể tách rời của văn hoá Thổ Nhĩ Kỳ.

2. VĂN MINH CÀ PHÊ ROMAN

Văn minh cà phê Roman hay còn gọi là Cà phê La Mã là nền văn minh cà phê đại diện của phương Tây, nổi danh từ thế kỷ thứ XVI khi được Giáo Hoàng Clement VIII dùng trong nghi thức rửa tội cho tín đồ. Cà phê Roman tiêu biểu cho văn minh cà phê ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất và pha chế cà phê, kết hợp với sự thăng hoa trong nghệ thuật trình bày.

Văn minh cà phê Roman mang trong mình tri thức cấp tiến của một nền văn minh đã nỗ lực vượt khỏi áp bức của thần quyền trong thời Phục hưng, khai triển trí tuệ con người trong thời Khai sáng. Sau hơn 10 thế kỉ của đêm dài mộng mị thời Trung Cổ Tây Âu, tầng lớp tư bản phôi thai cùng với đạo Tin Lành đã hiển dương cà phê – thứ đồ uống mới được du nhập từ Trung Đông- như thức uống nhân văn của thời đại và đả kích việc lạm dụng bia như sự tàn hại của nhân cách.

Thời kỳ đầu của tư bản Tây Âu, cà phê được vinh thăng như thức uống giúp con người cởi trói xiềng xích và tạo tác sự tự do cho bản thân. Cùng với các tổ chức tư bản, cà phê đã góp phần đưa xã hội Tây Âu thời bấy giờ thoát khỏi cảnh ngập trong bia vàng – đen – trắng. Chính bởi vậy, có thể nói rằng ở Tây Âu tư bản cần cà phê và cà phê cần tư bản như hai tác năng song hành.

Thưởng thức và Tận hưởng (tiếng La Tinh Delectare et Prodesse) là kim chỉ nam đặt nền móng cho sự định hình của văn hóa cà phê Tây Âu lục địa với sự phân vùng và tương tác giữa ba tố chất nổi bật là French Class (Đẳng cấp Pháp), Italian Style (Phong cách Ý) và Viennese Spirit (Tâm thức Wien). Trong khi Thưởng thức chủ yếu liên quan đến thuộc tính của cà phê thì Tận hưởng cơ bản nói về khí quyển của cà phê, chính xác hơn là không gian, thời gian và con người quanh việc uống cà phê. Chính vì vậy, tính chất của thức uống không thể tách rời với động năng của hàng quán cũng như tưởng vọng của cách hàng. Các yếu tố lịch sử của vật thể, không gian, thời gian và con người là những yếu tố cấu thành nền văn minh cà phê giai đoạn Xã hội cà phê.

3. VĂN MINH CÀ PHÊ THIỀN

Văn minh Cà phê Thiền là văn minh cà phê tiêu biểu, hội tụ triết lý của người Phương Đông, được tạo nên từ sự tĩnh tại, rõ biết trong từng phút giây của con người để tỉnh thức, chiêm nghiệm và lĩnh hội tri thức từ những cuốn sách của nền văn minh nhân loại để đi đến giàu có và hạnh phúc đích thực. Nguồn gốc của Văn minh Cà phê Thiền bắt nguồn từ đâu? Theo “Trung Nguyên cà phê triết đạo nhân sinh”:

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Xã hội Cà phê chín muồi trên khắp châu Âu, ba niềm tin cơ bản cấu thành nền tảng tư duy hiện đại khởi sinh với thời khai sáng đã dần dần rạn vỡ. Tính ưu việt của lý trí, chiều hướng tất yếu của tiến bộ văn minh, sự lan tỏa của hạnh phúc nhân quần dựa trên thành quả của khoa học công nghệ bị những tai biến lịch sử đánh đổ tơi tả, mà lịch sử lại được làm nên bởi chính con người chứ không phải là thiên mệnh từ trên trời rơi xuống. Làm sao có thể tin rằng, lý trí luôn dẫn dắt con người khi mà những thảm họa của chiến tranh đó đây vẫn luôn diễn ra và đặt nhân loại trước nguy cơ diệt vong chưa từng có? Làm sao còn có thể tin vào sự tiên tiến của khoa học công nghệ khi nhân danh văn minh mà môi sinh của con người bị tàn phá và luôn cả sự tồn vong của địa cầu cũng bị đe dọa? Làm sao có thể tin về hạnh phúc khi mà mọi mô hình, học thuyết và chủ nghĩa, từ tăng trưởng kinh tế cho đến phát triển xã hội – chính trị lần lượt khánh tận hoặc rơi vào bế tắc. Trong bối cảnh ấy, tinh thần và tâm lý con người của thế kỷ XX, nhất là vào thập niên 80 phải chịu thêm sức ép ngày càng nặng nề và hoàn toàn mới lạ: bạo lực của thời gian. Sự phổ biến của stress, được gọi là căn bệnh của thời đại, chẳng phải là ngẫu nhiên. Hai thái cực của stress đã được gọi rất chính xác trong tiếng Việt: bên này là căng thẳng thần kinh và bên kia là tâm thần trầm cảm. Theo ngôn từ chuyên môn, căng thẳng là vì thiếu thời gian và trầm cảm vì thừa thời gian. Con người cảm thấy bị căng thẳng thần kinh bởi tính cạnh tranh ngày càng cao trong đời sống bắt con người phải luôn vượt qua kẻ khác và vượt trội chính mình, vì thế họ luôn cảm nhận thiếu thời gian để khẳng định vị thế của mình. Ngược lại, khủng hoảng kinh tế liên tục, kéo dài không chỉ đưa con người đến trạng thái bất an mà còn tạo tâm lý thừa thời gian nặng nề đối với những ai bị đẩy ra bên lề cuộc sống khi thất nghiệp hoặc chưa kiếm được việc làm. Trong vận tốc ngày càng nhanh của cuộc sống, thâm tâm con người còn phải đối đầu với niềm khắc khoải ghê gớm nhất của phận làm người, tự nhận mình là Chủ thể của Văn minh, phát minh ra những phương tiện ngày càng tối tân với mong muốn làm chủ thời gian nhưng rốt cuộc con người lại để thời gian làm chủ mình. Miệt mài đánh đổi cái hiện hữu của bản thân để có cái sở hữu của sinh tồn, cuối cùng sự hoảng loạn của con người không chỉ ở bình diện tâm lý mà đã lan sang cả lĩnh vực tâm linh. Con người hậu hiện đại/siêu hiện đại có xu hướng chìm vào quên lãng với rượu và bia để quên đi chính mình; xu hướng khác thì loay hoay tìm dựa vào các thế lực từ siêu nhiên đến tự nhiên, xu hướng vái tứ phương để mong cầu tìm lại bản thân và cội nguồn của chính nó trở nên phổ biến.

Tiêu dùng và thưởng lãm cà phê không những không nằm ngoài các xung lực ấy mà còn góp phần tái tạo hoặc chuyển hóa các xung lực đó, khởi nguồn từ cái quan trọng nhất là Con người cần tỉnh thức, để tìm lại được bản thân mình, bởi vì, Cà phê đã mở hướng cho não trạng của giới thức giả châu Âu nhìn nhận lại những đóng góp của văn minh Phương Đông cho nhân loại, họ lại tìm về Đông nơi mặt trời mọc bằng việc dõi về Tây nơi mặt trời lặn, mong được hành hương về một địa đàng đã mất, con người đang tìm kiếm những mối giao hòa Đông – Tây.

 

 

Khuyến mãi 1

Lorem Ipsum is simply dummy text of the printing and typesetting industry. Lorem Ipsum has been the industry’s standard dummy text ever since the 1500s, when an unknown printer took a galley of type and scrambled it to make a type specimen book. It has survived not only five centuries, but also the leap into electronic typesetting, remaining essentially unchanged. It was popularised in the 1960s with the release of Letraset sheets containing Lorem Ipsum passages, and more recently with desktop publishing software like Aldus PageMaker including versions of Lorem Ipsum.

  • 1
  • 2