Author: Admin

Tranh dân gian Việt Nam có lịch sử rất lâu đời, là biểu tượng tín ngưỡng, thể hiện niềm tin, mong ước và những giá trị thẩm mỹ nghệ thuật phổ biến trong đời sống văn hóa của người Việt. Theo những nghiên cứu lịch sử, vào khoảng thế kỷ 12 đã bắt đầu xuất hiện những làng nghề chuyên khắc ván, làm tranh. 

Tranh dân gian – vẽ lại

Cùng những thăng trầm của đất nước qua các giai đoạn lịch sử, và sự phát triển của xã hội, ngày nay tranh dân gian không còn được nhìn thấy nhiều trong cuộc sống hiện đại, chỉ được lưu giữ lại trong bảo tàng. Các làng nghề hay hộ làm tranh cũng vì thế mà biến mất dần hoặc hoạt động cầm chừng. 

Với mong muốn tranh dân gian không chỉ là di sản cần được bảo tồn mà có thể hòa nhập được với đời sống đương đại, họa sĩ trẻ Xuân Lam đã làm mới lại kho tàng tranh dân gian Việt Nam một cách rất sáng tạo với những ứng dụng kỹ thuật đồ họa hiện đại.

Những bức tranh dân gian – vẽ lại của Họa sĩ trẻ Xuân Lam
Những bức tranh dân gian – vẽ lại của Họa sĩ trẻ Xuân Lam

​Họa sĩ Xuân Lam

Họa sĩ Xuân Lam sinh năm 1993, tốt nghiệp chuyên ngành Hội họa, ĐH Mỹ Thuật Việt Nam

  • Triển lãm cá nhân “Vẽ lại tranh dân gian” (2017); “Cuộc gặp gỡ Xưa – Nay” (2019)
  • Tham gia thực hiện nhiều dự án nghệ thuật như: Nghệ thuật công cộng phố Phùng Hưng (Hà Nội – 2018); Nghệ thuật đương đại trong Nhà Quốc Hội (Hà Nội – 2018); Dự án nghệ thuật công cộng Phúc Tân – Sông Hồng (Hà Nội – 2020) hay gần đây nhất tác phẩm sơn mài của anh được trưng bày tại Vietnam Pavilion tại triển lãm Quốc tế (Dubai – 2021);…
  • Đạt giải thưởng của Đại sứ quán Đức nhân dịp kỉ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Đức – Việt Namgiải nhất “Ngày nghệ thuật Đương đại” lần thứ 16 của Đại sứ quán Ý. 
  • Năm 2021, Xuân được lời mời của Đại sứ Hà Lan tại Việt Nam thực hiện một tác phẩm thể hiện kết giao văn hóa và mối quan hệ tốt đẹp giữa hai quốc gia. Ngoài ra, anh cũng nhận được bằng khen của Quận Hoàn Kiếm cũng như Nhà Quốc Hội vì những sáng tạo của mình.
Họa sĩ Xuân Lam bên cạnh bức tranh Đông Hồ vẽ lại Ngũ hổ

Bộ sưu tập “Vẽ lại tranh dân gian” của họa sĩ Xuân Lam trưng bày trong triển lãm “Vẻ đẹp của làng nghề Việt”

Các tác phẩm tranh dân gian thay vì được thực hiện bằng kĩ thuật in ván gỗ đã được Xuân Lam thể hiện lại bằng việc kết hợp nét vẽ tay thô ráp của chì trên giấy với kĩ thuật chuyển màu mềm mại và rực rỡ, đặc trưng của đồ họa hiện đại. Điều làm nên nét đặc trưng cho các tác phẩm “Vẽ lại tranh dân gian” của Xuân Lam chính là vẻ quen thuộc của các bức tranh dân gian thời nào không bị mất đi, mà chúng trở nên sống động và tươi mới, gần gũi với đời sống đương đại hơn.

Không gian thưởng lãm bộ sưu tập "Vẽ lại tranh dân gian" của họa sĩ Xuân Lam tại Triển lãm Vẻ đẹp của làng nghề Việt
Không gian thưởng lãm bộ sưu tập “Vẽ lại tranh dân gian” của họa sĩ Xuân Lam tại Triển lãm Vẻ đẹp của làng nghề Việt

Bộ sưu tập trưng bày trong triển lãm “Vẻ đẹp của làng nghề Việt” tại Bảo tàng Thế giới Cà phê nằm trong hai dự án: “Vẽ lại tranh dân gian” là dự án đầu tiên được Xuân Lam thực hiện năm 2016; và dự án “Cuộc gặp gỡ Xưa – Nay” thực hiện năm 2019.

Khách tham quan trước những bức tranh dân gian vẽ lại sống động và tươi mới

Triển lãm tại Bảo tàng Thế giới Cà phê diễn ra từ 15/5 – 15/6/2022
Triển lãm tại Bảo tàng Thế giới Cà phê diễn ra từ 15/5 – 15/6/2022

Các tác phẩm trong bộ sưu tập chủ yếu là dòng tranh chúc tụng Hàng Trống, tranh Đông Hồ như: Ngũ Hổ, Tố Nữ, Cá chép trông trăng, Thiện Hạ Thái Bình hay Gà và hoa hồng. Đây vốn là những bức tranh từng một thời được người Việt trang hoàng nhà cửa vào mỗi dịp xuân về hay tặng cho người thân như một lời cầu mong phước lành cho năm mới. 

​https://www.youtube.com/watch?v=YX26DMLMNwU

Triển lãm “Vẻ đẹp của Làng nghề Việt”
Tinh hoa truyền thống – Cảm hứng tương lai
Thời gian: 15/5 – 15/6/2022
Theo dõi thông tin tại fanpage Bảo tàng Thế giới Cà phê để biết thêm thông tin về triển lãm.
Nghề giấy thủ công xuất hiện ở Việt Nam từ khá sớm, từ khoảng thế kỷ thứ 3 (sau CN). Có những tài liệu lịch sử đã ghi chép về việc các thương nhân La Mã đã mua được hàng vạn tờ giấy hương mật của người Giao Chỉ; trong sách “Thập dị kí” của Vương Gia người Trung Quốc cũng cho biết: người Giao Chỉ đã biết làm giấy từ rong rêu lấy từ lòng biển, gọi tên là giấy Trắc Lí… từ thế kỷ thứ 4. Ngày nay, chúng ta vẫn có thể thấy giấy dó, giấy sắc phong, giấy điệp… là những loại giấy thủ công vẫn còn được bảo tồn và phát triển tại Việt Nam.​
Một tác phẩm quạt giấy trúc chỉ

 

Tranh Trúc chỉ & nghệ thuật giấy Việt Nam

Nghệ thuật Trúc chỉ  một loại hình nghệ thuật mới của Việt Nam. Trúc chỉ được chế tác bằng cách kết hợp nghề giấy thủ công truyền thống đã  từ hàng nghìn năm ở Việt Nam  nguyên  của nghệ thuật Đồ họa do Họa sỹ Phan Hải Bằnggiảng viên ĐH Nghệ thuậtHuế cùng cộng sự nghiên cứusáng tạo nên từ năm 2000.

Nghệ thuật Trúc chỉ là một loại hình nghệ thuật mới của Việt Nam. Trúc chỉ được chế tác bằng cách kết hợp nghề giấy thủ công truyền thống đã có từ hàng nghìn năm ở Việt Nam và nguyên lý của nghệ thuật Đồ họa do Họa sỹ Phan Hải Bằng, giảng viên ĐH Nghệ thuật, Huế cùng cộng sự 

nghiên cứu, sáng tạo nên từ năm 2000.

Trúc chỉ xuất phát từ ý niệm: làm cho Giấy có thêm khả năng: thoát khỏi thân phận làm nền để trở thành một tác phẩm độc lập.

 Nếu như Washi (Hòa chỉ) là từ để chỉ giấy thủ công của ngưởi Nhật, Hanji (Hàn chỉ) là từ để chỉ giấy thủ công của người Hàn quốc

 (không chỉ cụ thể một loại nguyên liệu nào), thì Trúc Chỉ là từ để định danh một loại hình giấy- nghệ- thuật, nghệ- thuật- giấy mới 

của người Việt. Từ đây, Trúc Chỉ là tên gọi định danh với ý nghĩa: Trúc nghĩa là “tre”, “trúc”, biểu tượng cho văn hóa, tinh thần người Việt; còn “Chỉ” là giấy. Thuật ngữ kỹ thuật “trucchigraphy” đã ra đời từ ý nghĩa đó và duy nhất có ở Việt Nam.

Quy trình tạo tác Tranh trúc chỉ

Đồ họa Trúc Chỉ/ trucchigraphy là sự kết hợp, ứng biến trên 3 yếu tố:​

– Quy trình làm giấy thủ công truyền thống.​

– Kỹ thuật tạo áp lực nước trên giấy​

– Các nguyên lý của nghệ thuật đồ họa (nguyên lý của kỹ thuật in khắc kim loại/ etching) được Họa sĩ Phan Hải Bằng và cộng sự nghiên cứu, tiếp biến và sáng tạo trong quá trình làm việc, thể nghiệm… từ năm 2000 đến nay.​

Nguyên lý đồ họa Trúc Chỉ là sử dụng áp lực nước để bóc đi từng lớp lớp bột giấy để tạo nên các độ dày mỏng, tương ứng với các sắc độ cho tác phẩm Trúc chỉ khi tương tác với ánh sáng. Đây chính là điều làm nên sự khác biệt, đặc trưng của các tác phẩm đồ-họa-giấy mà trước nay chỉ mới có được ở Trúc Chỉ

Một bức tranh trúc chỉ hoàn thiện
Một bức tranh trúc chỉ hoàn thiện,  tác phẩm đồ-họa-giấy mà trước nay chỉ mới có được ở Trúc Chỉ​​

Bộ sưu tập “Huế trong lòng Huế

Bộ sưu tập Trúc chỉ trưng bày tại triển lãm “Vẻ đẹp của làng nghề Việt” có chủ đề “Huế trong lòng Huế” với mong muốn thông qua nghệ thuật sắp đặt để giới thiệu với du khách muôn nơi về cố đô Huế, miền đất di sản với những giá trị truyền thống và nghệ thuật đương đại.​

Bộ sưu tập “Huế trong lòng Huế” trưng bày tại triển lãm “Vẻ đẹp của làng nghề Việt”
Bộ sưu tập “Huế trong lòng Huế” trưng bày tại triển lãm “Vẻ đẹp của làng nghề Việt”
Bộ sưu tập “Huế trong lòng Huế”
Bộ sưu tập “Huế trong lòng Huế” trưng bày tại triển lãm “Vẻ đẹp của làng nghề Việt”

Các tác phẩm:

  • Liên hoa hồ tịnh
  • Cửu đình hội
  • Xuân hồng
  • Tâm không
  • Đối cảnh thiền
  • Sanh

Triển lãm “Vẻ đẹp của Làng nghề Việt”
Tinh hoa truyền thống – Cảm hứng tương lai
Thời gian: 15/5 – 15/6/2022
Theo dõi thông tin tại fanpage Bảo tàng Thế giới Cà phê để biết thêm thông tin về triển lãm.
theMay – thương hiệu trang sức được chế tác từ các loại vải dệt thủ công và gốm của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam
Được sáng lập bởi Vũ Thị Thanh Vân, cô gái trẻ có tình yêu mãnh liệt với thổ cẩm và văn hóa truyền thống.​
Ý tưởng khởi nghiệp với các loại sản phẩm thủ công truyền thống của Vũ Thị Thanh Vân đến từ các chuyến công tác, khi tìm khắp nơi cũng không ra các sản phẩm đặc trưng văn hoá phù hợp với thời trang đương đại để làm quà cho bạn bè, đồng nghiệp. Từ đó cô đã tự mày mò thiết kế sản phẩm trang sức, các loại phụ kiện dựa trên thổ cẩm của các dân tộc thiểu số: Ba Na, J’rai, Chăm… và gốm Bàu Trúc, Ninh Thuận.​
Sản phẩm theMay là sự kết hợp giữa chất liệu thổ cẩm truyền thống và thiết kế hiện đại mang đầy đủ các yếu tố: tính độc đáo – tính ứng dụng – tính nghệ nhân với mong muốn khi nhắc tới thời trang Việt Nam, chúng ta không chỉ có Áo Dài, Nón Lá mà còn có các sản phẩm từ Thổ Cẩm.​
Ngay khi ra mắt, sản phẩm của theMay đã nhận được sự quan tâm, đón nhận của rất nhiều bạn trẻ bởi thiết kế sáng tạo, đa dạng mẫu mã, dễ dàng phối kết hợp với tất cả các phong cách thời trang đương đại.​

Vũ Thị Thanh Vân – Nhà sáng lập & CEO của theMay

  • Sinh năm 1993, học chuyên ngành kinh tế đối ngoại – ĐH ngoại thương TP.HCM
  • năm làm việc tại Tập đoàn Asahi Kasei, một trong những tập đoàn chuyên về năng lượnghóa chất lớn nhất Nhật Bản.
  • Khởi nghiệp với thương hiệu theMay với các thiết kế trang sức độc quyền được chế tác từ thổ cẩm  gốm của các dân tộc thiểu số của Việt Nam từ năm 2018 với mục tiêu quảng  văn hóa Việt qua thời trang.
  • Các bộ sưu tập tiêu biểuPô Inư Nagar (nữ thần tạo dựng xứ sở Chămpa); Sunshine and Moonlight (biểu trưng văn hóa dân tộc Ba Na), Tết – Khoảnh khắc (cảm hứng từ Tết nguyên đán Việt); Ariyana (cảm hứng văn hóa dân tộc Chăm)…

theMay – Tinh hoa các dân tộc Việt góp mặt tại Triển lãm Vẻ đẹp của làng nghề Việt với bộ sưu tập ứng dụng thổ cẩm vào thiết kế trang sức độc đáo.
◼️ Từ sở thích sưu tập giày Converse và niềm đam mê nghiên cứu cổ phục Việt; lớn lên trong gia đình có truyền thống nghiên cứu về nhạc cụ dân tộc, sưu tập cổ vật cung đình Huế, họa sĩ trẻ La Quốc Bảo đã bắt đầu hành trình sáng tạo, thổi hồn vào những đôi giày Converse với động lực chương trình “Đi tìm trang phục Việt” và đặc biệt là công trình “Ngàn năm áo mũ”.​
◼️ Bộ sưu tập Annam Heritage được La Quốc Bảo sáng tạo trên nền nghệ thuật và kiến trúc cung đình Huế, với chuỗi thiết đầu tiên dựa trên hoa văn của áo “Nhật Bình”. Đây là một loại lễ phục đặc trưng của Việt Nam, vốn dành riêng các bậc Hậu, công chúa, mệnh phụ nhà Nguyễn. Tiếp theo đó là các ý tưởng đến từ lễ phục quan lại, mành rồng Đại Nội Huế, tranh tường Cửu Long Ẩn Vân,…​
◼️ Ngoài thiết kế độc đáo là sự hòa quyện giữa truyền thống – hiện đại, các sản phẩm của bộ sưu tập Annam Heritage đều được tỉ mỉ vẽ tay 100% để tạo nên những đôi giày độc bản với số lượng giới hạn. Yếu tố tinh hoa truyền thống đã truyền cảm hứng tới 1 họa sĩ trẻ, giúp La Quốc Bảo sáng tạo ra những sản phẩm được đón nhận ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là cộng đồng người Việt tại hải ngoại.​
👉 Bộ sưu tập “Annam Heritage” sẽ góp mặt trong Triển lãm “Vẻ đẹp của Làng nghề Việt”: Tinh hoa truyền thống – Cảm hứng tương lai, tại Bảo tàng Thế giới Cà phê ngày 15/05 – 15/06/2022.

Họa sĩ Xuân Lam, Sinh năm 1993, tốt nghiệp chuyên ngành Hội họa, ĐH Mỹ Thuật Việt Nam.

 

Triển lãm cá nhân “Vẽ lại tranh dân gian” (2017); “Cuộc gặp gỡ Xưa – Nay” (2019)

Tham gia thực hiện nhiều dự án nghệ thuật như: Nghệ thuật công cộng phố Phùng Hưng (Hà Nội – 2018); Nghệ thuật đương đại trong Nhà Quốc Hội (Hà Nội – 2018); Dự án nghệ thuật công cộng Phúc Tân – Sông Hồng (Hà Nội – 2020) hay gần đây nhất tác phẩm sơn mài của anh được trưng bày tại Vietnam Pavilion tại triển lãm Quốc tế (Dubai – 2021);…

 Đạt giải thưởng của Đại sứ quán Đức nhân dịp kỉ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Đức – Việt Namgiải nhất “Ngày nghệ thuật Đương đại” lần thứ 16 của Đại sứ quán Ý. 

Năm 2021, Xuân Lam được lời mời của Đại sứ  Lan tại Việt Nam thực hiện một tác phẩm thể hiện kết giao văn hóa  mối quan hệ tốt đẹp giữa hai quốc gia. Ngoài ra, anh cũng nhận được bằng khen của Quận Hoàn Kiếm cũng như Nhà Quốc Hội  những sáng tạo của mình

​Bộ sưu tập trưng bày trong triển lãm “Vẻ đẹp của làng nghề Việt” tại Bảo tàng Thế giới Cà phê nằm trong hai dự án: “Vẽ lại tranh dân gian”, dự án đầu tiên được Xuân Lam thực hiện năm 2016; và dự án “Cuộc gặp gỡ Xưa – Nay”, thực hiện năm 2019.​

    Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, cả nước có trên 5.400 làng nghề, trải dài khắp 3 miền Bắc – Trung – Nam với khoảng 50 nhóm nghề bao gồm: gốm sứ; mây tre đan; sản phẩm từ cói – lục bình; điêu khắc gỗ; sơn mài; thêu; điêu khắc đá; dệt thủ công; giấy; tranh nghệ thuật; kim khí;…
    Những nghiên cứu khảo cổ học cho thấy, làng nghề thủ công Việt Nam có lịch sử phát triển hàng nghìn năm và phát triển mạnh từ khoảng thế kỷ 11. Các làng nghề không chỉ tạo lập thành mô hình kinh tế, giúp đời sống, văn hóa – xã hội phát triển mà còn giúp những người thợ thủ công sáng tạo hơn, trở thành nơi hội tụ của tinh hoa văn hóa Việt. Dưới bàn tay tài hoa của nghệ nhân, nhiều sản phẩm từ các làng nghề đã trở thành tác phẩm nghệ thuật và có mặt ở nhiều bảo tàng danh tiếng trên thế giới như: gốm sứ, điêu khắc, sơn mài…
💫 Với định vị trở thành “bảo tàng của tương lai”, nơi thẩm thấu các giá trị đương đại và tiếp biến của đời sống; cùng mục tiêu giúp cộng đồng thấy được sức sống trường tồn của di sản văn hóa dân tộc; sức sáng tạo bền bỉ của người Việt; tôn vinh các nghệ nhân, những người thợ thủ công, Bảo tàng Thế giới Cà phê và Trung Nguyên Legend tổ chức:
Triển lãm “Vẻ đẹp của Làng nghề Việt”
Tinh hoa truyền thống – Cảm hứng tương lai
Thời gian: 15/5 – 15/6/2022
    Triển lãm có sự tham gia của nhiều nghệ nhân hàng đầu, hàng chục làng nghề truyền thống tiêu biểu của Việt Nam trải dài ba miền Bắc – Trung – Nam về tơ lụa, gốm sứ, thổ cẩm, đan lát… Tinh hoa truyền thống chính là nguồn cảm hứng dành cho hiện tại và tương lai, giúp thế hệ trẻ tìm tòi sáng tạo. Với ý nghĩa ấy, Triển lãm “Vẻ đẹp của Làng nghề Việt” mong muốn là cầu nối gắn kết các giá trị truyền thống – hiện đại đến gần nhau hơn; giúp lan tỏa sức sống, truyền cảm hứng sáng tạo đến thế hệ trẻ để tạo ra nhiều sản phẩm ứng dụng mới, có sự kết hợp hài hòa giữa tinh hoa văn hóa truyền thống, nghệ thuật đương đại cùng ứng dụng công nghệ như: Tranh Đông Hồ & tranh Hàng Trống vẽ lại; Nghệ thuật giấy Trúc chỉ; Nón sen, giày Converse Annam Heritage,…
    Theo dõi thông tin tại fanpage Bảo tàng Thế giới Cà phê để biết thêm thông tin về triển lãm.

Cây Nêu của người Mông

Người Mông là một trong những dân tộc thiểu số có dân số đông nhất ở Việt Nam, với 1.393.547 người trong toàn quốc (2019). Là dân tộc nhập cư vào Tây Nguyên, họ đến từ các tỉnh miền núi phía Bắc. Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, người Mông ở Tây Nguyên có 82.865 người, tại Đắk Lắk, họ sinh sống ở hầu khắp các huyện trong tỉnh, song tập trung đông nhất tại 8 huyện là: Krông Bông, Mdrăk, Ea Sup, Krông Păk, Lăk, Krông Năng, Čư Mgar, Ea Kar, với dân số là 39.241 người.

Mặc dù quê hương của người Mông ở những bản làng xa xôi tận biên giới phía Bắc, khi di cư vào canh tác trên vùng đất đỏ của núi rừng Tây Nguyên nhiều gia đình dân tộc Mông đã trồng cây cà phê, bắt đầu an cư và lạc nghiệp trên vùng đất mới.

Lễ hội Gầu Tào là lễ hội truyền thống của người Mông vùng Tây Bắc Việt Nam như: Lào Cai, Hà Giang… được gìn giữ từ xưa đến nay. Thông thường, khi một gia đình người Mông không có con, ít con hoặc sinh con một bề hay có người ốm đau hoặc làm ăn không tốt…, họ sẽ lên đồi Gầu Tào khấn xin thần linh ban cho con cái, cầu xin sức khỏe hay làm ăn thuận lợi. Khi lời cầu khấn trở thành hiện thực, họ làm lễ Gầu Tào để tạ ơn thần linh.

Cây Nêu của người Mông được dựng trong lễ hội Gầu tào (cầu phúc hoặc cầu mệnh) tổ chức từ ngày 3 đến ngày 5 tháng giêng âm lịch. Cây Nêu được làm bằng thân cây mai (một loại tre) to, già, thẳng, còn ngọn, có lá xanh, không bị sâu. Cây khi chặt phải đổ theo hướng mặt trời lặn. Khi mang cây nêu đến nơi dựng thì không được ai bước qua hoặc luồn dưới thân cây, người ta thực hiện với những nghi thức phức tạp khi chặt cây làm nêu, trồng nêu và bày đồ lễ khấn trước cây.

Cây được chằng buộc để ngọn cây vút cong hướng về phía Tây, phía mặt trời lặn. Trên ngọn cây Nêu của người Mông treo 3 đến 5 sải vải lanh đỏ và xanh, nẹp cành trúc, buộc thành cờ; phía dưới sải vải lanh đen còn buộc 2 túm bắp ngô, 1 cụm lúa, 1 quả bầu nậm đựng rượu, ngoài ra còn có khèn, gậy và một vài vật dụng của người Mông…nhằm cầu mong một năm mới tốt lành.

Lễ hội dựng cây Nêu gắn liền với niềm tin của người Mông về cầu phúc, cầu mệnh. Đây cũng là môi trường nuôi dưỡng văn hóa, văn nghệ dân gian Mông, gắn kết khối đoàn kết cộng đồng…

Meej txhis Hmoob

Hmoob yog ib meej txhis coob nyob raus Yij Naj (Nyab Laj) teb chaws, muaj 1.393.547 tus neeg raws teb chaws sau cia xyoo 2019. Yog ib meej txhis tsiv teb raws chaws pem cov xeem qaum teb tuaj rau Tay Nguyen. Raws xw li teb chaws muab xam rau xyoo 2019, peb hmoob nyob rau Tay Nguyen muaj 82.865 tus, xeem Dak Lak, nyob rau ntau lub xyem, coob dua tshaj yog 8 lub xyem: Krong Bong, Mdrak, Ea Sup, Krong Pak, Lak, Krong Nang, Cw Mgar, Ea Kar, huv si muaj 39.241 tus zeej khawv.

Tsiv kav Hmoob teb chaws qaum teb yog nyob cov xeem tom tom siab, roob zeb roob tsuas li ntau tab tsiv tuaj nyob rau cov xeem Tay Nguyen no, Hmoob twb paub cog ca fe teb chaws no, ua tau noj tau haus rau ntawm teb chaws tshiab no.

Lub tsiab Nqaum Toj yog ib lub kev cai rau ntawm peb Hmoob nyob cov xeem toj siab Yij Na teb chaws xws li Lao Cai(Los Kiab), Ha Giang(Huv Yaj)…tau bov hum bov yoom ntoj teg thaum ntxov los txog nyim no. Yog leej tws yim neeg Hmoob tsi muaj me nyuam, tsi muaj tub, si muaj mob tsi paub zoo, ua tsi tau noj tsi tau haus. Ces yuav mus thov lawv cov txiv toj, tsaj hauv toj kom noj tsiab tuam thxij tuaj Nqaum Toj, ua tsaug rau dab txiv toj.

Tus ncej txheeb Hmoob tsaj rau pem hauv toj qhov chaws Nqaum Toj kom thov koob hmoov rau yim neeg tsaj hauv toj yogh nub xiab 3 txog xiab 5 xyoo tshiab. Tus ncej txheeb yog ob tus si peb tus xyoob kav laus, siab thiab ncaj, muaj ntsi xyoob, nplooj xyoob tseem ntsuab, tsi muaj kab noj. Thaum txiv xyoob yuav raws sab hnub poob. Thaum coj tus xyoob mus tsaj hauv toj, tsi lob hla thiab nkag hauv tus xyoob, ua ntau yam kev cais thov tag li txiav xyoob los tsaj hauv toj.

Tus xyoob txiav los tsaj hauv toj tsi txiav lub ntsi, lub ntsi xyoob nkaus mus rau sab hnub poob. Saum lub ntsi xyoob, Hmoob dai 3 txog 5 daim ntaub maj liab, ntsuab khi lub ntsi xyoob; hauv qab cov ntaub dub khi 2 teg pob kw, 1 teg nplej, 1 lub phwb taub nruab cawv, thiab dai ib rab qeej, qws thiab Hmoob li txuas, hlaus…kom ib xyoo zoo mus.

Hmoob lub hauv toj thiab tus ncej ntxeeb yog kom thov tej dab qhua thiab toj roob hauv peg los pab maj kom zoo, tsi muaj mob tsi muaj nkees. Qhov nov twb yog Hmoob li kev caij vaj luag zoo siab pov hwm pov yoom rau Hmoob lub neej, kom tuam txhi tuam cuab nyob zoo thiab nyob thaj cej…

The Mong’s Nêu pole

The Mong  was one of the ethnic groups with the most population in Vietnam, with 1,393,547 people in the whole country (2019). As an ethnic group who immigrated to the Central Highlands, they come from the northern mountainous provinces. According to the 2019 census of population and housing, the Mong in the Central Highlands had 82,865 people. In Dak Lak, they, with a population of 39,241 people, live in almost all districts in the province, but the largest concentration in Krong Bong, Mdrăk, Ea Sup, Krong Pak, Lak, Krong Nang, Ču Mgar, Ea Kar districts.,

Although the Mong’s homeland is in remote villages as far as the northern border, but when migrating to the Central Highlands, many Mong  families planted coffee trees and began to settle down a new land.

Gau Tao Festival is a traditional festival of the Mong in the Northwest of Vietnam such as Lao Cai, Ha Giang, etc., which has been preserved since ancient times. Usually, when a Mong family has no children, few children, or gives birth to a single child, or has a sick person or earns living at bad,  they will go to Gau Tao hill to pray to the Gods to give their children, pray for good health or good business. When their prayers come true, they open Gau Tao ritualto give thanks to the Gods.

The Mong’s Nêu pole is erected in the Gau Tao festival (praying for good luck or good destiny) celebrated from the 3rd to the 5th  of January of lunar year. The Nêu pole is made of the trunk of apricot tree (a type of bamboo) that is big, old, straight, with green leaves at the top. It is compulsory that When being cut, tree have to fall in the direction of the sunset. , When bringing the pole to the place in the festival, no one is allowed to step over or crouch under the pole. Manycomplicated rituals are practiced to cut down trees for making the Nêu pole, growing the Nêu pole and displaying the offerings to pray in front of the tree.  the Nêu tree and making vows in front of the Nêu tree.

The Nêu poleis tied so that the top of the pole is curved towards the west, the sunset. On the top of the Nêu pole,of the Mong hang three to five strips of red and blue linen, bamboo branches tied into a flag; Under the black linen strip, there are also two bunches of corn, onecluster of rice, one gourd of wine, and other Mong’s items… to pray for a good new year.

The festival of building the Nêu pole is associated with the Mong’s belief  in Dak Lak about praying for luck and destiny. This is also an environment to nurture Mong’s folklore and engage the community united bloc.

So với các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, đồng bào Mường đến Tây Nguyên sớm nhất, ngay từ những năm 50 của thế kỷ XX. Đồng bào Mường di cư đến sinh sống chủ yếu tại một số thôn của xã Hòa Thắng và xã Ea Kao, thành phố Buôn Ma Thuột và rải rác ở các huyện Ea Kar, Krông Păk, Krông Bông…(Đắk Lắk), ngoài ra, họ còn cư trú ở huyện Chư Prông (tỉnh Gia Lai), huyện Ngọc Hồi (tỉnh Kon Tum). Theo số liệu Tổng điều tra dân số các dân tộc năm 2019, người Mường ở Tây Nguyên có 43.571 người, ở tỉnh Đắk Lắk là 15.656 người.

Người Mường ở thành phố Buôn Ma Thuột còn lưu giữ khá nhiều các di sản văn hóa tộc người, trong đó các hoạt động liên quan đến Đình làng là đặc sắc nhất.

Theo truyền thống, ngày 28 tháng Chạp, cùng với việc chuẩn bị các loại rượu, thịt, bánh và mâm cơm để cúng gia tiên, các gia đình người Mường đều dựng một cây Nêu ở vị trí trang trọng phía trước sân nhà. Ngoài nêu chính (nêu lớn) được trồng ở giữa sân nhà còn có nhiều cây Nêu khác nhỏ hơn, được cắm ở bếp, ngoài vườn, chuồng trâu, chuồng lợn, chuồng gà, độn thóc…

Loại cây được dùng làm cây Nêu thường là cây tre, hoặc cây lành hanh. Người ta chọn những cây tre, cây lành hanh thật thẳng, to, đốt thưa, cao khoảng 7 mét và còn nguyên ngọn. Lấy những cây ở phía ngoài cùng của bụi tre hay bụi lành hanh vì những cây này thường dễ đào trọn cả vầng gốc, có nhiều rễ, khi trồng xuống đất để dựng làm cây Nêu sẽ tươi lâu hơn. Sau đó, người ta sẽ tỉa sạch các nhánh và lá ở phía dưới, chỉ để lại tán tròn ở phần ngọn.

Theo tục lệ truyền thống, người Mường hay treo những vật dụng lao động được đan bằng tre, nứa như: cuốc, bừa, dao… để trang trí cây Nêu. Cây Nêu này được người Mường ở xã Ea Kao, thành phố Buôn Ma Thuột thực hiện.

Câây Nêu Mọoi Mường

Soo với các dân tộc thiểu số miền núi pía Bắc, Mọoi Mường tếng Tây Nguyên Khởm, Bỡ năm năm mươi, cua thế kỷ 20. Mọoi Mường di cư, téeng khoống ỡ Xã Hòa Thắng với Xã Eakao, Thành phố BMT, Tếng huyen Ea Kar, Krông Pắc, Krông Bông, Đak Lak. Pạou Còn Tếng ỡ huyen Cư Prông tỉnh Gia Lai, huyen Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum. Pạou tra dân số các dân tộc năm 2019, Mọoi Mường ở Tây Nguyên có 43.571 mọoi, ỡ tỉnh Đắk Lắk là 15.656 mọoi. Mọoi Mường ở thành phố Buôn Ma Thuột,

Mọoi Mường ở thành phố Buôn Ma Thuột, moọi  ha con giữ ạn di sản văn hóa mọoi mường nhật lá Đình làng là đặc sắc nhất.

Thẹo truyen thộng, ngày 28 thạng Chạp, tều với việc chuẩn bị các loại rạo, nhúc, Péeng vợi pàan cơm tể cụng gia tiên, vợi gia đình mọoi Mường tều nhà nò cũng cọ câây nêu, ỡ vĩ trị trang trọng phía trước sân nhà, ngoai tha, câây nêu ỡ khữa sân nhà còn có tữ câây Nêu khác yêu hơn, ạn cắm ỡ Pếp, ngoài khướng, Tuồng tru, Tuồng cúi, Tuồng Ca, khậm thóoc…

Nhựng câây ạn lá câây Nêu tều là câây Pương, hoặc câây lành hanh. Pạu chọn những câây pương, câây lành hanh that thăng, to, thôốt thưa, dăặy khoảng pảy (7) mét còn lèeng ngọn.

Lế những câây ỡ phía vài cùng, của pụi pương hay pụi lành hanh vì những câây nì dễ tào lế cả Côốc, có Từ rễ, khi vôông xuộng tất tể rứng  câây Nêu án thươi lô hơn;

Ẻo nữa, Pạu tia sạch các éeng với lá ở phịa rượi, Tể là lái tản tròn ở chóp ngón.

Theo tục lệ truyền thống, Mọoi Mường hay treo những tồ vật dụng lao động ạn taan pằng pương, nứa như: cuốc, pừa, Tao… Tể trang trí câây Nêu. Câây Nêu ni ạn mọoi Mường ỡ xã Ea Kao, thành phố Buôn Ma Thuột lám.

The Muong’s Nêu pole

Compared with ethnic minorities in the Northern mountainous region, the Muong came to the Central Highlands earliest, right from the 1950s of the twentieth century. The Muong migrated to live mainly in a few villages of Hoa Thang and Ea Kao communes in Buon Ma Thuot city and scatter in  Ea Kar, Krong Pak and Krong Bong district (Dak Lak). In addition, they also in Chu Prong district (Gia Lai province), Ngoc Hoi district (Kon Tum province). According to the 2019 census of population and housing , there are 43,571 Muong people in the Central Highlands including 15,656 people in Dak Lak province.

The Muong in Buon Ma Thuot city still preserve many cultural heritage of ethnic groups, among which the activities related to the communal house in the village are special. Traditionally, on December 28th, types of wines, meat, cakes and food tray to worship the ancestors are prepared and the Nêu pole is built in a solemn position in the front yard of the house, In addition to the main Nêu pole (big pole) is planted in the middle of the yard, there are many other smaller trees planted in the kitchen, in the garden, in the buffalo shed, in the pigsty, in the chicken coop, in the rice barn. to exorcise evil spirits

The type of tree often used for making the Nêu pole is  bamboo or bamboo family. People choose straight and big bamboowith sparsely joints , which is about 7 meters high and is intact. Take the plants on the outermost part of the bamboo bush or the bamboo family bush because these trees are often easy to dig the whole stump , have many roots, so it will keep fresh for longer when it is planted in the ground to make the Nêu pole. Then, people will trim off the branches and leaves at the bottom, leaving only the rounded canopy at the top.

According to traditional custom, the Muong often hang laboritems woven with bamboo such as hoes, harrows and knives to decorate the Nêu pole. This Nêu pole is made by the Muong in Ea Kao commune, Buon Ma Thuot city.

 

Cây Nêu của người Xơ Đăng
Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, người Xơ Đăng ở Việt Nam có dân số 212.277 người, tập trung chủ yếu tại Tây Nguyên với dân số là 143.991 người, đông nhất là ở tỉnh Kon Tum có 133.117 người, còn ở Đắk Lắk là 9.818 người, …
Cây Nêu của người Xơ Đăng có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt trong ngày đầu năm mới. Cây Nêu tượng trưng cho cây lúa, người ta dựng cây Nêu để cầu mong cho năm tới một vụ mùa bội thu, mọi gia đình đều được ấm cúng, no đủ hơn năm cũ.
Người ta chọn cây lồ ô to, đẹp, thẳng nhất để làm cây Nêu. Những người già khéo tay sẽ vót những bó bùi nhùi từ thanh lồ ô để treo lên cây Nêu trang trí. Bó bùi nhùi tượng trưng cho bông lúa. Cây Nêu phải được trang trí đẹp tô vẽ rất cầu kỳ, đầy màu sắc, báo hiệu cho các vị thần biết rằng nơi này đang diễn ra một sự kiện quan trọng. Không những thế, cây Nêu đẹp thì năm sau vụ mùa mới bội thu.
Ngọn cây Nêu được tạo hình 6 nhánh cây, trên ngọn 6 nhánh cây này được tạo hình bông hoa nhiều cánh; phía dưới là hình con chim, bên dưới là chùm tua sợi giống như rơm vàng (làm từ tre) cũng được tô màu đỏ & đen, thể hiện mong ước no ấm, đủ đầy. Thân cây Nêu được tô màu trắng, đen & đỏ. Dưới gốc cây Nêu là một sàn được đan bằng tre được bao quanh là những thanh gỗ để vật dâng cúng thần linh như chuột nướng, xôi nướng trong ống lồ ô…Ở một vài nơi, quanh gốc cây Nêu người ta còn dùng máu gà sống bôi xung quanh để trừ ma quỷ. Sau lễ hội, người ta thường để luôn cây Nêu tại nơi diễn ra sự kiện cho đến khi nó tự hư hỏng theo thời gian. Cây Nêu này do nghệ nhân buôn H’Ring, xã Ea H’Đinh, huyện Čư M’gar chế tác.

Kâng Xơ Đăng
Tiô tơdroăng chêh tối dêi Khu xiâm séa mơnhên pơ’leăng mâ mơngế ƀă hngêi trăng a hơnăm 2019 nah, mơngế Rơteăng a Việt Nam ai 212.277 pơ’leăng mâ mơngế, tơkŭm hên cho a kơpong Tây Nguyên ƀă pơ’leăng mâ ai 143.991 ngế, kơdrâm má môi cho a kong pơlê Kon Tum ai 133.117 ngế, a kong pơlê Dak Lak ai 9.818 ngế, …
Kâng dêi hdroâng Rơteăng cho ai pơxúa ƀă kal kân khât malối tung hâi apoăng mot hơnăm nếo. Kâng cho vâ mơhno tối ăm báu phái, prá alâi, kế tơmeăm, vâi mơdâng Kâng vâ rơkâu pâ ăm tung hơnăm nếo châ hên báu phái, prá alâi, rêm rơpŏng pơrá châ hơniâp ro, phâi tơtô tâ hơnăm ton.
Vâi rah ko phêa ki kân krá lĕm, tơdrăng vâ pro Kâng. Mâu vâi krâ ki rơkê hmâ ‘nhuăn pro kơboi, kơdrế ing klŏng kơlo, phêa vâ kơtúa a kâng pro rơnuâ i krip. Kơboi, kơdrế mê cho vâ mơhno tối cho kơpâu báu. Kâng athế châ bro rơnuâ lĕm ro, mơjiâng pro krip krih, hên mơngiơk, mơhno tối ăm khu xeăng ‘nâi tíu kí dế po môi tơdroăng mơdĭng ki kal păng ‘nâng. Ti xê to tiah mê, Kâng châ bro lĕm mê hơnăm kơ’nâi ah, tơngah kô châ hên báu phái, prá alâi hên tâ.
Kối Kâng châ mơjiâng 6 tơpá, a kối dêi 6 tơpá mê mơjiâng pro um reăng ai hên mơná: peăng kơdâm cho um chêm, pá xôp cho kơboi ngăn môi tiah hrái ki trĭng (pro ing kơlá) xuân châ pik mơngiơk khêi ƀă prăng, mơhno tối hiâm mơno pói châ phâi tơtô, tŭm têk. A tơdế Kâng vâi hmâ pik mơngiơk rơbông, prăng ƀă khêi. A chêng Kâng cho tơdrá ki vâi trá pro ƀă kơlá, tâ tá châ tâp tung tơnêi ƀă loăng vâ pleăng mâu tơmeăm hdroăng, pleăng xối ăm xeăng, môi tiah mâm kơnái pôh hiăng khăng, tơxông prông tung phêa… A mâu pơlê ‘nâ, tâ tá xiâm Kâng vâi hmâ hdrế mơheăm í ối drêh bliu tâ tá vâ troh tah kiâ ‘mêi rơtôh. Klêi kơ’nâi leh mơdĭng mê, vâi hmâ ‘măn Kâng a tíu ki po mơdĭng mê ta troh ga pok xêh ah. Kâng kố cho xua vâi krâ a ƀuôn Hring, cheăm Ea H’Đing, tơring Čư̆ Mgar mơjiâng bro.

The Sedang’s Nêu pole

According to the 2019 census of population and housing, the Sedang in Vietnam had a population of 212,277 people, concentrating mainly in the Central Highlands with a population of 143,991 people, the most popupous was in Kon Tum province with 133,117 people, in Dak Lak was 9,818 people,…

The Sedang’s Nêu pole has a special meaning and important role on the first day of the new year. The Nêu pole represents rice and it is build to pray for more bountiful harvests, and prospeous families in the new year than the previous year.

People choose the biggest, beautiful and straightest bamboo tree to make the Nêu pole. The skillful old people will make bamboo tufts for decoration. The bamboo tufts represent the rice flowers. The Nêu pole must be beautifully colorful decorated signaling to the Gods that an important event is taking place here. Not only that, if the Nêu tree is beautiful, r the crop will be bountiful next year.

 

The top of the Nêu pole is shaped into 6 branches. On the top of these 6 branches is shaped like a multi-petal flower; Below is a symbol of a bird and a bunch of yellow straw-like tassels (made from bamboo) that are also colored red & black, expressing the wish to be fullness.. The body of the Nêu pole is colored in white, black and red. Under the foot of the Nêupole is a bamboo floorsurrounded by wooden slats, used asa table for offerings to the Gods, such as grilled mice, grilled sticky rice in a bamboo tube… In some places, around the base of the Nêu poleapplied with chicken blood to exorcise demons.

After the Ritual, the Nêu pole is placed at the event happening site until it self-destructs over time. This Nêu pole is made by the artisans in village H’Ring, Ea H’Dinh commune, Ču M’gar district.