Author: Admin

So với các dân tộc khác thiểu số miền núi phía Bắc, đồng bào Mường đến Tây Nguyên sớm nhất, từ những năm 50 của thế kỷ trước. Đồng bào Mường ở tỉnh Hòa Bình di cư đến sinh sống chủ yếu tại một số thôn của xã Hòa Thắng và xã Ea Kao, thành phố Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk). Đồng bào dân tộc Mường ở Thanh Hóa di cư vào muộn hơn thì định cư ở các xã thuộc huyện Ea Kar (Đắk Lắk) như: Ea Păl, Ea Ô, Ea Sar, Cư Elang, Ea Đar, Cư Ni, thị trấn Ea Kar. Ngoài ra, người Mường còn cư trú rải rác ở các huyện khác như: Krông Pach, Krông Bông… Ở Gia Lai, người Mường Hòa Bình sinh sống tập trung tại xã Ia Lâu, huyện Chư Prông. Tại Kon Tum, đợt di dân của người Mường vào đây sớm nhất là năm 1992, tập trung ở xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi. Theo số liệu Tổng điều tra dân số các dân tộc năm 2009, người Mường ở Tây Nguyên có 35.544 người.

Với bản tính cần cù, chịu khó, họ đã tạo dựng được cuộc sống mới ấm no, trù phú trên quê hương mới. Từ chỗ ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, nhà cửa lụp xụp, đến nay hầu hết người Mường đều đã có vườn cà phê và tiêu xanh tốt, nhà cửa tiện nghi đầy đủ…

Cùng với nét văn hóa “Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lui, tháng tới” được thể hiện rõ nét qua câu tục ngữ trong văn học dân gian Mường, trang phục truyền thống của phụ nữ Mường có giá trị phong phú, đặc sắc, tinh tế – một hiện thân sống động của tư duy triết học và nghệ thuật tạo hình độc đáo bậc nhất trong chiều sâu lịch sử văn hóa dân tộc Mường.

Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Từ Chi đã từng viết: “Họ không khắc lên gỗ, lên đá, lên đồ gốm, lên kim loại, không tạc tượng gỗ, tượng đá, không nặn tượng đất, không đúc tượng đồng mà họ dệt cái quan niệm thẩm mỹ của mình lên cạp váy phụ nữ! Cạp váy ở đây, là như tượng, như tranh!”. Quả thật cái hay, cái đẹp, tinh túy và thâm sâu nhất đã được khắc họa trên bộ trang phục truyền thống của phụ nữ Mường.

Hiện nay, bộ trang phục truyền thống thường được mặc vào các dịp lễ, Tết, còn ngày thường thì chỉ có các bà, các mẹ hay mặc. Trang phục truyền thống của người Mường có hai màu sắc chính là nâu và trắng. Áo pắn (áo ngắn) có cánh thân ngắn đến chấm eo lưng, xẻ ngực, ống tay dài. Bên trong là loại áo báng (yếm) cùng với đầu váy nổi lên giữa hai vạt áo ngắn. Điểm nhấn của bộ trang phục nằm ở đầu váy và cạp váy. Khi mặc, mảng hoa văn nổi lên giữa trung tâm cơ thể. Đặc biệt, phần cạp váy thể hiện sự tinh tế, khéo léo, sâu sắc của người dệt. Phần này thường do ba bộ phận dệt riêng rồi can lại với nhau. Đi đôi với váy là bộ tênh, thường bằng vải đũi, màu xanh hoặc màu vàng, dài hơn sải tay, khâu nối hai đầu, thắt đúng giữa eo trên nền cao váy, làm nổi eo người mặc. Bộ sà tích bằng bạc được móc vào tênh từ bên hông đeo vòng về phía trước. Màu sắc bộ trang phục phụ nữ Mường không rực rỡ nhưng trang nhã, sâu sắc, thể hiện tính cách của người phụ nữ Mường – chân thành, trầm lắng và hết sức tinh tế. Qua bộ trang phục truyền thống xưa kia cũng thể hiện rõ được gia thế, độ tuổi, tầng lớp phụ nữ và các vùng Mường.

Đặc biệt, trong bộ trang phục của phụ nữ Mường, chiếc khăn đội đầu có ý nghĩa quan trọng. Khăn có màu trắng. Người Mường quan niệm màu trắng như một sự tinh khiết, thanh cao, là bầu trời, một cõi cực lạc và thoát tục nên phụ nữ Mường đội đầu bằng chiếc khăn màu trắng để thể hiện lòng kính trọng và tôn vinh. Bên cạnh ý nghĩa về màu sắc, nét tinh tế, độc đáo, mang đậm tính triết học về nhân sinh quan của văn hóa Mường còn được thể hiện rất rõ trong cách đội khăn. Chiếc nút thắt của khăn nằm ở vị trí phía trên búi tóc thể hiện cho sự yên bình. Ngoài ra, bộ trang phục còn có áo chùng (chỉ mặc trong ngày lễ hội), khăn thắt áo, cạp cấu váy, vòng bạc, vòng cườm đeo cổ, đeo tay…

Những phụ nữ Mường khi diện trang phục truyền thống gắn kết với phong thái nhẹ nhàng, duyên dáng cảm thấy tự tin, mềm mại và uyển chuyển hơn. Mỗi chi tiết trên trang phục không chỉ thể hiện giá trị văn hóa mà còn cho thấy sự khéo léo của những cô gái. Những cô gái Mường khoác trên mình bộ trang phục rực rỡ, tựa như những bông hoa đủ màu sắc rực rỡ giữa đại ngàn Tây Nguyên.

Những năm 60 của thế kỷ XX, một số hộ người dân tộc Thái ở các tỉnh phía Bắc như Sơn La, Lai Châu… đến định cư tại xã Hòa Phú, TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk rồi dần hình thành nên cộng đồng làng xóm. Theo số liệu Tổng điều tra dân số các dân tộc năm 2009, người Thái ở Tây Nguyên có 40.556 người.

Di cư đến vùng đất mới, sống phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp như trồng cà phê, điều, mía, lúa nước, chăn nuôi … Dù đời sống của bà con người Thái trong thôn còn nhiều khó khăn nhưng vẫn khá hơn so với ở quê hương cũ, nhiều hộ gia đình năng động, chăm chỉ đã có cuộc sống ổn định, khá giả. Cuộc sống ngày càng no đủ đã giúp đồng bào người Thái có điều kiện duy trì, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa đặc sắc của cha ông mình…

Từ xa xưa, người Thái đã biết trồng dâu, nuôi tằm để tự dệt vải. Với sự cần cù, trí tưởng tượng phong phú, phụ nữ Thái đã tạo nên những tác phẩm nghệ thuật, thể hiện qua những nét hoa văn mang tín ngưỡng văn hóa độc đáo trên bộ trang phục. Các nhóm người Thái như Thái Đen, Thái Trắng đều có nhiều điểm chung trong trang phục hằng ngày nhưng trong đó, vẫn nổi bật bản sắc riêng để phân biệt.

Một bộ trang phục truyền thống phụ nữ Thái gồm: áo ngắn (xửa cỏm), áo dài (xửa chái và xửa luổng), váy (xỉn), thắt lưng (xải cỏm), khăn (piêu), nón (cúp), xà cạp (pepăn khạ), các loại hoa tai, vòng cổ, vòng tay và xà tích. Xửa cỏm (áo ngắn bó sát người có hàng cúc bướm) có thể may bằng nhiều loại vải với màu sắc khác nhau. Chính hàng khuy bạc hay kim loại đã làm cho xửa cỏm thành chiếc áo đặc trưng của bộ nữ phục Thái. Theo quan niệm dân gian Thái, hai hàng cúc bạc trên hai vạt áo xửa cỏm là tượng trưng cho sự kết hợp nam với nữ, tạo nên sự trường tồn của nòi giống.

Phụ nữ Thái còn mặc hai loại áo dài là xửa chái và xửa luổng. Xửa chái may bằng vải chàm đen, kiểu áo 5 thân, cài cúc phía bên tay trái, cổ đứng, gấu áo phủ quá đầu gối. Theo tục lệ, phụ nữ có chồng mới mặc xửa chải vào dịp cưới xin, hội hè. Xửa luổng là áo khoác ngoài, may dài, rộng, chui đầu, có tay hoặc không có tay. Phụ nữ Thái từ khi còn trẻ đã may loại áo này, một dành cho bản thân khi về già và một dành biếu mẹ chồng khi về làm dâu. Các cụ già mặc áo xửa luổng lộn trái vào ngày thường, chỉ khi chết mới mặc mặt phải. Váy (xỉn) cùng với xửa cỏm tạo nên dáng nét chính của bộ nữ phục Thái. Phụ nữ Thái mặc váy hai lớp: váy trắng lót bên trong và và váy chàm mặc ngoài. Thắt lưng (xài ẻo) làm bằng vải tơ tằm hay sợi bông màu xanh lam hoặc tím xẫm, giữ cho cạp váy quấn chặt lấy eo bụng.

Nói về bộ trang phục nữ Thái không thể thiếu chiếc khăn Piêu. Chiếc khăn Piêu được các cô gái Thái thêu thùa rất cầu kỳ, với đường nét tinh sảo và hoa văn mang đậm chất núi rừng hoang sơ cùng màu sắc sặc sỡ, thể hiện tình yêu, sức mạnh nữ tính. Đặc biệt, phụ nữ Thái khi đi lễ hội không thể thiếu chiếc khăn Piêu cầm tay. Ngoài ra, phụ nữ Thái rất thích đeo các đồ trang sức, như: Vòng cổ, vòng tay, hoa tai, trâm cài tóc, xà tích và cả cúc bạc.

Sự khác biệt giữa nữ giới của dân tộc Thái Đen và Thái Trắng được thể hiện trong các dịp hội hè. Những dịp đó, phụ nữ Thái Trắng thường mặc áo dài màu đen. Đây là loại áo dài thụng thân thẳng, không lượn nách, được trang trí bằng vải “khít” ở giữa thân có tua vải phủ từ vai xuống ngực, nách áo trang trí theo lối đáp hai mảng hoa văn trong bố cục hình tam giác. Phụ nữ chưa chồng búi tóc sau gáy, có chồng búi trên đỉnh đầu. Họ có loại nón rộng vành. Trong khi đó, phụ nữa Thái Đen thường mặc áo dài xẻ nách, chui đầu, trang trí phong phú đa dạng về màu và màu mà mô-típ hơn Thái trắng.

So với trang phục nữ, trang phục của nam người Thái đơn giản và ít chứa đựng sắc thái, gồm: Áo, quần, thắt lưng và các loại khăn. Áo nam giới có hai loại: áo cánh ngắn và áo dài. Áo ngắn may bằng vải chàm, kiểu xẻ ngực, tay dài hoặc ngắn, cổ tròn. Khuy áo làm bằng đồng hay tết thành nút vải. Áo không có trang trí hoa văn, chỉ trong dịp trang trọng người ta mới thấy nam giới Thái mặc tấm áo cánh ngắn mới, lấp ló đôi quả chì ở đầu đường xẻ tà hai bên hông áo.

Mặc dù có những nhóm người Thái khác nhau nhưng nhìn chung trang phục của họ phần nào cũng thể hiện ảnh hưởng của nhau. Tất cả đều rất tự hào về bản sắc riêng của mình và không ngừng bảo tồn, phát huy, phát triển những giá trị văn hóa truyền thống tộc người, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam Tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

Trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, đồng bào Dao là dân tộc có số dân đông thứ 9, tập trung cư trú ở Tuyên Quang, Hà Giang, Sơn La, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh và các tỉnh Tây Nguyên. Người Dao ở Đắk Lắk đông nhất là Dao Đỏ, một số khác là Dao Tiền, Dao Thanh Phán di cư từ Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn… tới, sống tập trung ở các huyện Cư M’gar (xã Ea Mdroh), Krông Năng (Ea Sô), Krông Păk (Ea Phê), Ea H’leo… Theo số liệu Tổng điều tra dân số các dân tộc năm 2009, người Dao ở Tây Nguyên có 35.176 người.

Người Dao sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nương và làm lúa nước. Ngoài ra còn trồng một số cây màu như ngô, đậu, sắn… và phát triển nghề trồng cây công nghiệp như quế, hồi, trẩu, thảo quả… Khi di cư vào Tây Nguyên, người Dao gắn bó với cây cà phê, như ông Đặng Văn Viên người Dao ở Quảng Ninh di cư vào xã Cư Suê, huyện Čư M’gar, Đắk Lắk và bắt đầu trồng cây cà phê từ năm 1955, đến nay gia đình ông đã có 4 đời trồng cà phê, kỹ thuật canh tác có nhiều tiến bộ do biết áp dụng khoa học kỹ thuật và nhanh nhạy trong nắm bắt thị trường…

Do quá trình di cư chưa lâu nên nhiều phong tục tập quán cũ của người Dao còn được giữ gìn, đồng thời các giá trị văn hóa vật chất của đồng bào Dao vẫn thể hiện rõ nét trong cấu trúc làng, bản, nhà ở và nhất là trong trang phục…

Trang phục truyền thống của đồng bào Dao rất đa dạng gồm quần, áo, váy, yếm, khăn đội đầu hoặc mũ, dây lưng, xà cạp và đồ trang sức bằng bạc. … với kiểu dáng, hoa văn, họa tiết cầu kỳ, tinh xảo, mang sắc thái vẻ đẹp của thiên nhiên như hoa rừng, thế núi. Người đàn ông Dao trước kia thường để tóc dài và búi sau gáy hoặc để chỏm tóc trên đỉnh đầu, nay hầu như để tóc ngắn, họ mặc quần màu chàm đen, áo ngắn tay hoặc dài tay màu chàm đen có trang trí một số hoạ tiết đỏ. Trang phục phụ nữ phong phú hơn, giữ được nhiều nét trang trí hoa văn truyền thống, họ để tóc dài và búi lên sau đó đội đầu bằng khăn truyền thống theo trang phục của từng nhóm địa phương như: Dao Quần Trắng, Dao Quần Chẹt, Dao Tiền (Dao Tiểu bản), Dao Thanh Y, Dao Thanh Phán, Dao Áo Dài, Dao Đỏ (Đại bản),…

Phụ nữ Dao Quần Trắng để tóc dài, rẽ ngôi giữa, tóc búi sau gáy, bên ngoài đội một cái khăn thêu. Chỉ ngày cưới cô dâu mới đội mũ, khăn của phụ nữ Dao Quần Trắng hình chữ nhật (rộng 40 x 50cm) màu chàm, thêu nhiều họa tiết trang trí, như: hình sao (phăng nhày) bằng chỉ đỏ, vàng; hình con cua (kép nhày). Chính tâm của khăn thêu ngôi sao tám cánh, bốn góc khăn thêu 4 ngôi sao nhỏ hơn nối với ngôi sao ở chính tâm bằng các tia; xen kẽ giữa họa tiết các ngôi sao lớn này là nhiều ngôi sao nhỏ hơn, cùng họa tiết các hình hoa, lá, lọng… Mép khăn viền các đoạn ngắn vải màu trắng, đỏ xen kẽ. Đỉnh một góc khăn có đính dải buộc được dệt từ chỉ đỏ và đen.

Áo phụ nữ Dao Quần Trắng cùng kiểu với Dao Tiền, Dao Quần Chẹt, Dao Thanh Y…là áo dài, nhuộm chàm, may cổ thìa, khoét nách, ít thêu hoa văn hơn, chỉ thêu vài họa tiết ngang thân, góc tà, chủ yếu là hình sao tám cánh. Dây lưng bằng vải chàm hoặc lụa đỏ, màu cánh sen, dài khoảng 1,5m, rộng 3-4cm, thêu nhiều họa tiết bằng chỉ màu đỏ, đen, vàng (tùy theo màu của dây lưng). Yếm của phụ nữ Dao Quần Trắng là một đặc điểm nổi bật trong bộ y phục. Yếm làm bằng vải nhuộm chàm, hình chữ nhật, khá to, dài khoảng 60cm, rộng 40cm, che kín cả ngực và bụng.

Phụ nữ Dao Quần Chẹt chỉ có áo dài, không có áo ngắn, hoa văn của áo chủ yếu là thêu bằng chỉ đỏ, trắng, vàng với những hoa văn chim và cây thông cách điệu, tua chỉ màu kéo dài xuống. Một nét đặc trưng riêng biệt của nhóm Dao này đó là chiếc quần, quần dài có ống rất hẹp, gấu quần được trang trí một băng hoa văn.

Trang phục truyền thống của phụ nữ Dao đỏ bao gồm áo, quần, khăn vấn đầu, thắt lưng và các đồ trang sức khác đi kèm. Mỗi trang phục có 5 màu cơ bản: đỏ, xanh, trắng, vàng, đen, trong đó chủ yếu là màu đỏ. Bà con quan niệm, màu đỏ mang lại hạnh phúc, may mắn, đầy đủ trong cuộc sống, ngoài ra còn mang thêm năng lượng, sức sống và hơi ấm cho núi rừng nên màu đỏ giữ vai trò chủ đạo trong từng bộ trang phục. Người Dao đỏ thường dùng vải lanh nhuộm chàm để may trang phục.

Khác với người Dao Đỏ, trang phục của người Dao Tiền chủ yếu là sự kết hợp hai màu chủ đạo là màu chàm và màu trắng. Khăn đội đầu là tấm vải trắng dài khoảng một sải, có thêu hoa văn ở hai đầu. Khi đội, người ta vắt hai đầu khăn về phía trước để hình hoa văn thêu lộ ra phía hai bên mang tai và đỉnh đầu. Áo màu chàm đen, xẻ giữa, từ cổ tới ngực đính hai hàng dọc những miếng bạc mỏng giống hình đồng bạc trắng đã cắt làm đôi với năm hàng ngang, phía dưới cùng là hình hai đồng bạc trắng để nguyên. Áo dài tới nửa đùi, xẻ tà; vạt, gấu và tay áo được thêu trang trí bằng những đường chỉ nhiều màu chạy song song. Vạt áo và sau lưng áo có thêu một số hoa văn trang trí màu trắng. Lưng áo có đính một xâu đồng tiền xu nhỏ và tua chỉ đỏ. Áo không có cúc nên khi mặc, người ta vắt chéo hai vạt áo để che kín ngực, hai tà áo gần như chồng khít lên nhau, sau đó dùng thắt lưng buộc ra ngoài. Váy của phụ nữ Dao Tiền là loại váy quây kín, ngắn đến gối, xòe rộng. Nửa trên của váy màu chàm đen, nửa dưới trang trí hoa văn màu xanh lơ bằng kỹ thuật in sáp. Hoa văn trên váy chạy theo chiều ngang, hình sóng nước. Thắt lưng nhỏ, bằng vải chàm hoặc tơ tằm màu đỏ, trắng, xanh tùy theo sở thích. Phụ nữ Dao Tiền đeo vòng cổ, vòng tay, khuyên tai, xà tích, nhẫn bằng bạc, cổ đeo 8 dây hạt cườm (2 dây ngoài cùng nhiều màu, 6 dây giữa hạt màu đen). Xà cạp màu chàm đen, hình tam giác, thêu trang trí ở cạnh và có dây buộc. Người ta quấn từ cổ chân lên đến quá đầu gối và buộc lại.

Phụ nữ Dao Thanh Y để tóc dài, rẽ ngôi giữa, vấn tóc xung quanh đầu rồi đội một cái mũ nhỏ. Mũ được làm bằng loại gỗ nhẹ, hình trụ tròn, cao khoảng 10-15cm, được bọc bằng vải nhuộm chàm đen, khi đội úp phần miệng vào đầu. Đỉnh mũ có đính ngôi sao bằng bạc 12 cánh, xung quanh thành mũ đính những miếng bạc hình tròn, sát nhau thành hai hàng song song. Áo dài là loại áo tứ thân, dài đến gối, xẻ giữa; viền cổ áo có thêu hoa văn bằng chỉ màu; ống tay áo may giáp nối, gấu tay màu đỏ; ở giữa thân sau áo có thêu. Nẹp, gấu, vạt áo được thêu trang trí bằng chỉ màu. Áo không cài khuy nên khi mặc được vắt chéo hai vạt rồi buộc thắt lưng ra ngoài. Yếm hình vuông, mỗi chiều 30cm, bằng vải màu chàm. Nửa trên của yếm đáp vải đỏ, đen và mảnh hoa văn đã được thêu sẵn. Dây lưng dài hai sải, rộng khoảng 6-8cm, dệt bằng chỉ màu. Quần thuộc loại quần chân què, chỉ dài tới ngang đùi, ống hơi hẹp, dưới gấu không thêu, đũng rộng có thể cử động thoải mái. Xà cạp làm bằng vài màu chàm không có hoa văn trang trí. Dây buộc xà cạp dệt bằng chỉ có các họa tiết đơn giản. Một đầu dây được đính các chuỗi hạt cườm và có tua dài.

Để phân biệt người ta hay so sánh rằng, phụ nữ Dao Thanh Y mặc quần ngắn, đội mũ nhỏ, còn phụ nữ Dao Thanh Phán mặc quần dài, đội đầu cao.

Phụ nữ Dao Áo Dài mặc áo bằng vải chàm đen, dài gần đến mắt cá chân. Áo cổ tròn, cài khuy về bên nách phải. Khuy áo bằng đồng, hình cầu, to gần bằng hạt ngô. Vạt thân áo trước và sau không thẳng mà cong giống như “đuôi tôm”. Nẹp cổ, nẹp hai bên thân trước và sau… đều thêu vài đường chỉ đỏ; cửa tay áo thêu nhiều hơn, đáp thêm vải đỏ hoặc xanh. Mặc dù áo có cài khuy, nhưng để cho gọn, người ta vẫn dùng dây lưng. Dây lưng bằng vải đỏ, đầu có tua dài. Quần cùng màu với áo, cắt theo kiểu chân què, cạp lá tọa. Gấu quần thường viền bằng chỉ màu. Xà cạp bằng vải trắng, khâu thành cái ống, một đầu to một đầu nhỏ; đầu nhỏ thêu hai hoặc ba băng nhỏ với các họa tiết đơn giản bằng chỉ đỏ, đen, vàng và trắng.

Người Dao của tất cả các nhóm cũng như đồng bào các dân tộc khác luôn trân trọng và giữ gìn trang phục truyền thống. Họ vẫn giữ thói quen tự may trang phục và mặc trang phục truyền thống trong tất cả các dịp lễ hội, đi chợ…

Người Mông là một trong những dân tộc thiểu số có dân số đông nhất ở Việt Nam, là dân tộc nhập cư vào Tây Nguyên, họ đến từ các tỉnh miền núi phía Bắc, Việt Nam, chủ yếu là thuộc các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang và Sơn La. Ở Đắk Lắk, người Mông sinh sống ở hầu khắp các huyện trong tỉnh, song tập trung đông nhất tại 8 huyện (Krông Bông, Mdrăk, Ea Sup, Krông Păk, Lăk, Krông Năng, Čư Mgar, Ea Kar). Theo số liệu Tổng điều tra dân số các dân tộc năm 2009, người Mông ở Tây Nguyên có 48.877 người.

Người Mông được phân biệt thành nhiều nhóm: Mông Đơ (Mông Trắng), Mông Đu (Mông Đen), Mông Lềnh (Mông Hoa), Mông Si (Mông Đỏ), Mông Dua (Mông Xanh), Mông Xúa (Mông Mán) và nhóm Na Mẻo. Sở dĩ người Mông được phân biệt thành các nhóm như vậy là dựa trên sự khác nhau về trang phục và ngôn ngữ giữa các nhóm Mông. Ví dụ người Mông Trắng mặc váy màu trắng, người Mông Đen thì mặc váy thiên về màu đen nhiều hơn…

Mặc dù quê hương của người Mông ở những bản làng xa xôi tận biên giới phía Bắc, khi di cư vào canh tác trên đất đỏ của rừng Tây Nguyên nhiều gia đình dân tộc Mông đã bắt đầu an cư và lạc nghiệp.Một trong những công việc giúp họ có cuộc sống ổn định hơn chính là chăm sóc và trồng cà phê. Những cô gái Mông hàng ngày cùng nhau chăm sóc, bẻ chồi, cắt cành cho cây cà phê, còn những chàng trai Mông đảm nhiệm vai trò đào bồn, làm cỏ, bón phân cho cây để cây cà phê thêm tươi tốt. Cứ thế công việc của họ mỗi ngày đều gắn liền với vườn cà phê, với những cây cà phê xanh mướt và những hạt cà phê chín đỏ. Tuy vậy, nét văn hóa truyền thống của tộc người thì họ không thể quên.

Người Mông có nét văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc, nổi bật trong số đó là nghệ thuật tạo hình trên nền trang phục luôn được người Mông lưu giữ, bảo tồn và phát huy. Tuy nhiên cùng với cuộc sống hiện đại việc trồng cây lanh đã dần dần không còn mà thay vào đó người phụ nữ Mông đã biết mua những miếng vải dệt sẵn ở chợ về để thêu váy. Hoa văn trong trang phục của người Mông chủ yếu là hoa văn hình học. Những họa tiết này biểu hiện cho sự biến chuyển của mặt trời, thời tiết, không gian và thời gian, là vốn văn hóa chung của nhiều dân tộc, nhưng được thể hiện đậm đà trong trang trí của người Mông.

Phụ nữ Mông chính là tác giả của nghệ thuật tạo hình trên nền trang phục vì cả cuộc đời họ đều gắn bó với công việc thêu hoa văn, may vá trong gia đình. Khi thêu, trí tưởng tượng của người phụ nữ Mông khá phong phú, họ không có hình mẫu mà vẫn thêu được những họa tiết đẹp. Đặc biệt là kỹ thuật ghép vải để tạo hoa văn của người Mông khá độc đáo, hấp dẫn, tạo những khoang màu khác nhau. Khi thêu, người phụ nữ mông thường tính toán tỉ mỉ từng đường kim mũi chỉ, kích thước trên toàn bộ hoa văn trong mảnh vải, vì chỉ cần nhầm một mũi kim là lại phải gỡ ra làm lại. Và những bộ trang phục đậm sắc màu thổ cẩm được hình thành theo năm tháng nhọc nhằn của người phụ nữ Mông. Trang phục truyền thống của phụ nữ Mông gồm áo xẻ ngực, váy, tấm vải che phía trước váy, tấm vải che phía sau váy, thắt lưng và xà cạp.
Với bàn tay khéo léo, óc sáng tạo và niềm đam mê, những cô gái dân tộc Mông ở Tây Nguyên đã làm nên những sản phẩm độc đáo, như thể hiện ý nguyện vượt lên sắc màu của thiên nhiên, để tôn vinh và khẳng định vẻ đẹp của con người. Với sự cần cù và trí tưởng tượng phong phú, người phụ nữ Mông đã trở thành người nghệ sĩ tạo nên những tác phẩm nghệ thuật làm say đắm lòng người.

Nổi bật là nghệ thuật tạo hình trên nền trang phục được người Mông Hoa lưu giữ, bảo tồn, phát huy. Sự tài tình của người Mông chính là họ có thể làm ra những bộ trang phục của dân tộc mình bằng chính nguyên liệu thiên nhiên là cây lanh. Trồng cây lanh dệt vải để làm ra trang phục là công việc hết sức vất vả và cầu kỳ, nó đòi hỏi sự khéo léo và kiên trì của những phụ nữ Mông. Người Mông rất ưa chuộng vải lanh bởi nó có độ bền cao. Bó lanh cắt về được phơi nắng khoảng một tuần rồi tước sợi. Sau đó đưa vào cối giã mềm rồi nối lại. Lanh cuốn thành từng cuộn tròn và mang đi giặt, luộc cho tới khi sợi lanh mềm và trắng thì mang phơi rồi dùng guồng chia sợi trước khi mắc vào khung cửi để dệt nên những tấm vải thật đẹp.

Phụ nữ Mông rất chịu khó, bất cứ ở đâu, trong những phiên chợ đông đúc hay khi đi trên đường, lúc nào người phụ nữ Mông cũng luôn tay se lanh, nối lanh. Đây là công việc không những để thể hiện sự khéo tay, chăm chỉ mà còn là tiêu chí đánh giá tài năng, đạo đức, phẩm chất và cách làm ăn của phụ nữ Mông. Không những thế, người phụ nữ khi đã làm mẹ còn có nghĩa vụ dạy bảo con gái trồng lanh và làm thổ cẩm. Trẻ em người Mông được hướng dẫn làm công việc này từ khi còn rất nhỏ.

Với người Mông Hoa, sau khi đã dệt thành vải thì họ sẽ vẽ sáp ong lên vải trắng những đường hoa văn hình học theo ý muốn sau đó mới đem nhuộm chàm. Người phụ nữ kết hợp cả ba kỹ thuật là thêu, vẽ sáp ong và chắp vải để tạo nên những họa tiết trên nền y phục. Họ thêu hoa văn không cần mẫu, chỉ dùng để thêu thường là sợi tơ tằm có độ bền cao và giữ được màu.

 

Dân tộc Bana là một trong những dân tộc sinh sống lâu đời nhất tại Tây Nguyên, bao gồm một số nhóm địa phương như Giơlơng, Rơngao, Roh, Tơlô,… họ cư trú lâu đời nhất chủ yếu ở khu vực Đông Bắc Tây Nguyên, về phía đông của hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum, một bộ phận ở miền núi các tỉnh Phú Yên, Bình Định. Theo số liệu Tổng điều tra dân số các dân tộc năm 2009, người Bana ở Tây Nguyên có 204.784 người.

Cũng giống như dân tộc Gia Rai hàng xóm cùng cư trú ở Bắc Tây Nguyên, trước đây, lúa rẫy là cây lương thực chính của người Bana, gắn liền với hoạt động săn bắt – hái lượm. Ngày nay, số lượng nông hộ là người Bana chiếm tới 70% tham gia chương trình xây dựng vùng nguyên liệu cà phê sạch đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Bà con được hỗ trợ nguồn phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc, thu hái, bảo quản đúng tiêu chuẩn, nhờ vậy gia tăng được năng suất, chất lượng cà phê, đảm bảo giá đầu ra cao hơn cho bà con.
Đời sống kinh tế ổn định, người Bana có điều kiện bảo tồn và phát huy bản sắc của dân tộc mình, nhất là trong nghề dệt thổ cẩm truyền thống, thể hiện sự tinh tế trên từng hoa văn do người phụ nữ Bana tỉ mỉ dệt nên. Chính các họa tiết làm nên sự độc đáo trong trang phục của người Bana. Với lối tư duy đơn giản, các họa tiết là những hình khối đối xứng mang tính biểu tượng cao. Họa tiết đối xứng phản ánh quan niệm về vũ trụ, trời – đất, âm – dương lấy thiên nhiên làm hình mẫu. Mỗi tấm thổ cẩm được làm ra là một bức tranh thiên nhiên thu nhỏ từ những nét cách điệu hình học. Sống giữa núi rừng bạt ngàn, những đường nét trong trang phục của người Bana đều như hòa quyện cùng với thiên nhiên, mang hơi thở đại ngàn.

Trang phục của người Bana rất giản dị với những đường nét khỏe khoắn nhưng không kém phần duyên dáng. Đàn ông mặc áo chui đầu, cổ xẻ, hở ngực, cộc tay, đóng khố hình chữ T. Phụ nữ mặc áo chui đầu, không xẻ cổ kết hợp với váy. Váy của phụ nữa Bana không được may lại mà nó chỉ là một tấm vải đen được quấn quanh thân dưới. Trong các ngày lễ, trang phục của người Bana có phần sặc sỡ hơn.
Ngay từ thời xa xưa, người Bana đã biết trồng bông, dệt vải để tạo ra những tấm vải thổ cẩm bền đẹp. Không chỉ vậy, người Bana còn biết tạo ra mùi hương đặc biệt cho trang phục của mình. Sau khi quay tơi những sợi bông ra, những người phụ nữ Bana lấy mật ong để làm mềm vải và tạo ra hương thơm nhẹ nhàng không lẫn vào trang phục các dân tộc khác.

Để làm nên sự độc đáo, tươi mới cho trang phục của mình, người Bana luôn tỉ mẩn, khéo léo trong cách chọn và phối hợp màu sắc. Người Bana sử dụng 3 màu chính là vàng, đỏ và đen, họ nhuộm vải bằng màu mực của các loại cây rừng. Mỗi màu sắc đều mang một ý nghĩa riêng, một tiếng nói riêng. Màu đen được nhuộm bằng lá cây chàm, cây mô, thường là màu nền của mỗi tấm vải, biểu hiện cho đất đai, cho sự nảy mầm từ mặt đất, độ che phủ của cây rừng mà suốt cả cuộc đời con người phải gắn chặt với nó kể cả khi họ đã trút hơi thở cuối cùng. Theo quan niệm của người Bana, màu đen là màu chủ đạo, gây ấn tượng mạnh mẽ về phong cách. Đây chính là những hoa văn phản ánh đường nét văn hóa truyền thống và đời sống sinh hoạt hàng ngày của người họ. Màu đỏ biểu hiện cho màu của lửa, của máu, tượng trưng cho sức sống, sự vươn lên, niềm đam mê, tình yêu và khát vọng, được nhuộm bằng nhựa cây Kxang, Kơ bai. Màu vàng biểu hiện cho ánh sáng mặt trời, sự kết hợp hài hòa giữa con người và tự nhiên, được nhuộm bằng củ nghệ hay màu của cây Kmếch. Màu xanh biểu hiện cho màu da trời, màu của cây lá được nhuộm bằng nhựa cây truông nhây, cây Kpai…
Hoa văn trên thổ cẩm Bana chủ yếu chạy dọc theo tấm vải. Điểm nhấn cho các bộ trang phục chính là các đường kẻ sọc. Những đường sọc ngang đỏ, trắng ở gấu áo của nam giới thể hiện sự mạnh mẽ của những người đàn ông quanh năm sống với núi rừng. Trên áo của nữ giới có sọc ở chỗ khuỷa tay, ở cổ, ngang ngực và gấu áo, váy có sọc thân và gấu thể hiện được sự đơn giản trong con người và sự duyên dáng của họ.
Bên cạnh đó, với người Bana, các phụ kiện là một phần không thể thiếu để tô điểm cho các bộ trang phục và có vai trò trừ tà ma. Các phụ kiện như: hoa tai, lược cài tóc, nhẫn ở 2- 3 ngón tay… Tục lệ đeo nhẫn bắt nguồn từ quan niệm: mỗi ngón tay đều mang một sức mạnh. Ví như ngón cái tượng trưng cho cha, ngón giữa tượng trưng cho sức mạnh, quyền lực, ngón nhẫn tượng trưng cho sức mạnh của tình yêu. Và, đeo nhiều nhẫn ở các ngón tay là thể hiện sức mạnh tối cao. Đặc biệt, các thiếu nữ Bana còn có khăn đội đầu để làm duyên. Chiếc khăn có những hàng cúc trắng, chuỗi cườm, cúc bạc … thể hiện được tình yêu thủy chung và niềm ước mơ hạnh phúc.

Trải qua hàng trăm năm tồn tại và phát triển, người Bana vẫn giữ nguyên được những nét văn hóa trên trang phục của mình. Để sau này, mỗi làn nhắc đến dan tộc Bana, người ta sẽ không quên những bộ trang phục độc đáo về họa tiết, ấn tượng về màu sắc và ngạc nhiên với ý nghĩa của từng đường nét.

 

Dân tộc Gia Rai là cư dân sinh sống ở Tây Nguyên khá lâu đời, họ sống tập trung chủ yếu ở Gia Lai, Kon Tum, phía Bắc tỉnh Đắc Lắc và phía Tây tỉnh Phú Yên, miền Đông Bắc Cam-pu-chia (giáp tỉnh Gia Lai). Theo số liệu Tổng điều tra dân số các dân tộc năm 2009, người Gia Rai ở Tây Nguyên có dân số đông nhất trong các dân tộc thiểu số là 670.141 người.

Họ có nhiều nhóm địa phương như: Chor, Hđrung, Aráp, Mthur, Tơbuăn…Trước đây, lúa rẫy là cây lương thực chính, một số ít vùng trồng lúa nước. Đời sống nương rẫy gắn liền với hoạt động săn bắt – hái lượm. Từ tập quán trồng lúa rẫy, sống dựa vào rừng, nay do chuyển đổi cây trồng, người Gia Rai đã canh tác thêm cà phê, cao su tiểu điền, hồ tiêu, điều… nên khá nhiều người đã trở thành tỷ phú chỉ trong thời gian rất ngắn.

Dân tộc Gia Rai có những trường ca nổi tiếng như “Đăm Di đi săn”, “Xinh Nhã”… và nghệ thuật chơi chiêng độc đáo, cùng với cồng chiêng là đàn T’rưng, đàn Klông-pút…Cùng với các dân tộc khác tại Gia Lai, trang phục của người Gia Rai có nét tương đồng từ khâu chế biến nguyên liệu, phương thức dệt vải, kiểu trang phục, màu sắc, hoa văn trang trí và trang sức. Trang phục người Gia Rai, nam/nữ sử dụng phổ biến các y phục kiểu choàng, quấn, áo chui đầu. Trong loại hình trang phục này, cổ nhất là chiếc khố của nam và váy của nữ. Trang phục nam không cầu kỳ nhưng khá độc đáo.

Thường nhật, nam đội khăn, theo lối quấn nhiều vòng trên đầu rồi buông sang một bên tai, hoặc quấn gọn ghẽ như khăn xếp của người Kinh. Khăn màu chàm. Nhìn chung nam giới Gia Rai đóng khố. Khố này thường ngắn hơn khố ngày hội, là loại vải trắng có kẻ sọc. Ngày lễ họ mang khố màu chàm (dài 410 cm x 29 cm), khố loại này được trang trí hoa văn màu trắng, đỏ thành các đường viền ở mép khố, đặc biệt hai đầu với các tua trên nền chàm. Có nhóm ở trần, có nhóm mang áo (loại cộc tay và loại dài tay màu chàm, khoét cổ chui đầu). Loại ngắn tay thường có đường viền chỉ màu trắng bên sườn. Loại dài tay giống phong cách áo dài nam Êđê hay Mnông.

Về khố, tùy theo vùng tộc người Gia Rai ở Gia Lai mà đàn ông mặc khố khác nhau, chất liệu vải trang trí hoa văn khác nhau, ví như đi làm họ mặc khố ngắn bằng vải mộc hoặc nhuộm chàm không trang trí hoa văn, nhưng trong các dịp: tiếp khách, nhà có lễ, làng có hội, đi thăm bạn làng khác, đi chơi xa… thì họ lại chọn kiểu khố vạt dài có tua chỉ màu đen và đỏ, trên mặt khố trang trí hoa văn theo rìa dọc khố, đầu khố có đính thêm hạt cườm. Về áo của nam có hai loại, áo có tay và áo không tay.

Phụ nữ để tóc dài búi sau gáy hoặc quấn gọn trên đỉnh đầu. Áo là loại áo ngắn, chui đầu, phổ biến là kiểu chui đầu cổ “hình thuyền”, riêng nhóm Gia Rai Mthur lại có kiểu cổ thấp hình chữ V và các loại cổ phổ biến. Trên nền chàm áo được trang trí các sọc hoa văn theo bố cục ngang thân áo ở cổ, vai, ống tay, giữa ngực, gấu áo và hai cổ tay áo. Đó là các sọc màu đỏ xen trắng và vàng trên nền chàm hoặc màu xanh nhạt diệp và màu chàm. Váy là loại váy hở quấn vào thân (kích thước trên dưới 140 cm x 100 cm). Phong cách trang trí trên váy cũng thiên về lối bố cục ngang với các đường sọc màu (như áo là chính). Có nhóm ở Pleiku với nguyên tắc trên nhưng được mở rộng thành các mảng hoa văn ở giữa thân váy, nửa thân dưới áo và hai ống tay. Trang sức có vòng cổ, vòng tay.

Màu sắc trên chiếc váy của phụ nữ Gia Rai thực ra không phong phú, chỉ có bốn màu cơ bản: đỏ, đen, vàng, trắng. Song để tôn lên vẻ rực rỡ, bắt mắt cho chiếc váy thì họ đã biết cách kết hợp từng màu sắc đó lại và dệt đan xen nhau để màu này tôn lên cho màu kia và đứng gần nhau mà không chọi nhau trên màu nền chàm sẫm của váy. Nhìn toàn thể chiếc váy, trên nền vải chàm sẫm, hoa văn được trang trí thường nổi bật lên với màu đỏ và nó được xem là màu chủ đạo khi kết hợp với các màu còn lại và còn là màu nền cho các dải chứa các kiểu hoa văn phụ khác.
Hoa văn trên khố: khố của nam giới thường gồm hai phần thân khố và chân khố, được phân chia làm hai loại: khố dành mặc cho ngày thường và khố dành mặc trong các ngày lễ của gia đình và cộng đồng. Điểm khác biệt để phân biệt hai loại khố này là dựa trên các kiểu hoa văn được tạo hình trên khố. Thông thường, loại khố mặc thường điểm xuyết hoa văn rất ít, đơn giản khác hẳn so với loại khố mặc lễ. Phần thân khố có chiều dài khoảng 80 cm, trên nền vải chàm đen, người ta dệt những dải hoa văn viền hai bên thân khố và nối tiếp nhau trong dải hoa văn đó là các hoa văn koi kơrâu – cách điệu như cổ con chim cu với chỉ màu vàng, đỏ đan xen. Nói chung hoa văn ở phần này khá đơn giản, bố trí không nhiều trên nền vải. Tập trung hoa văn nhiều nhất vẫn là ở phần chân khố và được dệt theo dải ngang. Hoa văn chủ đạo được dệt nơi chân khố là mô típ rau dớn được dệt ở vị trí trung tâm và có các dải hoa văn nhỏ được dệt đối xứng với hoa văn trung tâm. Ngoài ra, còn có các dải hoa văn phụ được dệt cách điệu hình mắt chim nhằm phân biệt giữa các dải hoa văn khác nhau đã tạo cho phần chân khố thêm nổi bật. Và để trang trí cho chiếc khố thêm đẹp hơn, người ta còn gắn các hạt cườm và các rua đỏ, rua đen…

Hoa văn – tự thân nó đã là một thứ ngôn ngữ biểu trưng và nó được con người sáng tạo, gửi gắm theo những ước mơ giản dị về cuộc đời và đó còn là một thứ ngôn ngữ không lời gìn giữ những ký ức về văn hóa một tộc người. Trên trang phục của người Gia Rai, các mô típ hoa văn thật sống động và hồn nhiên đã phần nào biểu hiện được những tâm tư tình cảm, quan điểm thẩm mỹ, và cả niềm tin tôn giáo… của người Gia Rai chứ không còn chỉ là một giá trị vật chất đơn thuần.

Người Cơ Ho, còn viết là Cờ Ho, Kơ Ho, K’Ho …, là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam. Cơ Ho là dân tộc thiểu số sống lâu đời ở khu vực phía Nam Tây Nguyên, bao gồm nhiều nhóm địa phương như Cơ Ho Srê, Cơ Ho Chil, Cơ Ho Nộp, Cơ Ho Lạch (Lạt), Cơ Ho T’ring và Cơ Ho Cờ Dòn… Người K’ho cư trú tập trung tại các tỉnh: Lâm Đồng, Bình Thuận, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Đồng Nai … Theo số liệu Tổng điều tra dân số các dân tộc năm 2009, người K’ho ở Tây Nguyên có dân số là 15.993 người.

Người Cơ Ho là một trong những tộc người được tiếp cận với cà phê sớm nhất khi cà phê du nhập vào Việt Nam, bởi vì họ là những người thích hợp để trồng loại cà phê Arabica, vốn rất phù hợp với khí hậu nơi chân núi Lang Biang, cũng chính là loại cà phê chiếm phần lớn ngạch xuất khẩu cà phê trên toàn thế giới. Ngoài việc trồng cà phê, người Cơ Ho còn rang xay và đóng gói thủ công sản phẩm làm ra của mình. Sự tỉ mỉ trong từng công đoạn đã biến những trái cà phê Arabica trồng tự nhiên trên vùng đồi núi Lang Biang thành loại thức uống với hương vị rất riêng.

Người Cơ Ho trước đây cư trú chủ yếu trên các vùng núi cao, cuộc sống khá tách biệt, nên vẫn giữ được nhiều nét phong tục tập quán văn hoá truyền thống. Đến nay, nhiều lễ nghi phong tục cổ truyền của người Cơ Ho vẫn được bảo tồn và phát huy.

Cũng giống như nhiều dân tộc khác ở Tây Nguyên, người Cơ Ho có truyền thống tự dệt vải và may các bộ trang phục cho dân tộc mình. Những bộ trang phục của người Cơ Ho không chỉ mang vẻ đẹp độc đáo, mà còn thể hiện nét văn hoá, bản sắc riêng.

Người Cơ Ho ngày xưa ăn mặc rất đơn giản, tất cả đều cởi trần, đàn ông đóng khố, phụ nữ mặc váy ngắn. Khi vải còn khó tìm, họ đã dùng vỏ cây rừng ngâm cho hết nhựa, gấp đôi lại khoét cổ và ống tay khâu lại bằng dây mây để làm áo chống rét.

Nam giới Cơ Ho vốn có thân hình vạm vỡ chắc khoẻ, nên đàn ông thường ở trần, đóng một chiếc khố khá rộng, dài từ 1,5m đến 2m có hình hoa văn theo dải dọc. Khố được quấn vòng quanh bụng, luồn qua chân, hai đầu khố quấn qua phía trước và phía sau. Áo nam Cơ Ho được dệt khá đơn giản, đó là kiểu áo chui đầu, cổ áo tròn, không có tay áo và nền hoa văn trang trí màu xanh đen. Áo của nam trước đây cài buộc bằng dây vải, còn ngày nay cài bằng nút (khuy áo bọc vải). Các hoạ tiết trang trí trên áo của nam tập trung nhiều ở chân áo với các hoạt tiết hình bông hoa, mắt chim. Chiếc khố khi mặc cùng với áo luôn tạo cho thân hình nam giới vẻ đẹp khoẻ khoắn và mạnh mẽ.
Theo tập tục truyền thống, các cô gái Cơ Ho khi lớn lên đều được người mẹ bày cho cách dệt vải để không chỉ dệt cho mình những bộ váy đẹp mà may trang phục cho cả gia đình và đem sản phẩm dệt của mình làm đồ sính lễ sang nhà trai. Những bộ váy đẹp nhất được dành cho những ngày lễ hội, cưới xin khi dân làng tụ họp vui vẻ trong tiếng cồng chiêng. Cô gái nào có bộ váy đẹp cũng chính là người chăm chỉ giỏi giang, được nhiều chàng trai để mắt tới và càng có điều kiện lựa chọn để “bắt chồng”.

Phụ nữ Cơ Ho ưa chuộng các bộ áo váy bằng vải dệt thổ cẩm, nên trang phục của phụ nữ Cơ Ho trông rất đẹp mắt. Phụ nữ Cơ Ho thường quấn váy dài đến đầu gối để lộ bắp chân to khoẻ khoắn, còn từ phần thắt lưng trở lên để trần. Những khi trời lạnh, họ thường khoác lên mình một tấm quấn quanh vai và người. Sau này phụ nữ thường mặc những chiếc áo bó, chẽn, phù hợp với chiếc váy truyền thống.Thông qua những hoa văn sinh động, người phụ nữ Cơ Ho đã gửi gắm tâm hồn cũng như sự cảm nhận thế giới tự nhiên vào những tấm vải dệt, hoạ tiết những bộ trang phục.Trên các bộ áo váy thổ cẩm của phụ nữ Cơ Ho chủ yếu là các hình kỷ hà, các loài muông thú, các vật dụng gần gũi trong đời sống sinh hoạt và mỗi hình đều mang ý nghĩa riêng. Ví dụ như: hình mắt chim tượng trưng cho cuộc sống gần gũi núi rừng, hình chiếc chà gạc tượng trưng cho việc làm nương rẫy… Những sản phẩm dệt của người Cơ Ho có các hoa văn rất đặc trưng, màu nền thường là màu tối, trầm, đặc biệt là hai màu xanh và xanh đen. Trên một khổ vải, phụ nữ Cơ Ho thường tạo hai dải hoa văn hai bên mép vải, làm được như vậy rất khó. Người dệt phải rất am hiểu về bố cục, cách sắp xếp sợi ngang và sợi dọc. Người ta phải quy ước với nhau, phải trải bao nhiêu sợi màu này, màu kia mới tạo ra hoa văn. Điều này chỉ những người lành nghề mới làm được. Để màu nhuộm được bền, bao giờ trong dung dịch nước nhuộm sợi, bà con cùng hòa thêm bột vỏ sò và tro củ chuối. Khi dệt, người phụ nữ ngồi duỗi thẳng chân trên sàn, hai chân đạp và giữ chặt một thanh chủ của khung dệt (gọi là đưng- pong) và một thanh chủ khác được dùng dây móc vào lưng người dệt để cố định và kéo căng khung sợi. Các thanh khác tùy theo chức năng của chúng mà luồn rất khéo vào giữa giàn sợi…Đó có thể là các loại hoa văn hình kỷ hà, người, các loài muông thú và các vật dụng quen thuộc, gần gũi trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của bà con như: cầu thang nhà sàn, cổ nỏ, tua cây nêu, cán xà gạt, con thuyền, mắt chim công, đường ranh, lá đùng đình, cây chông, vầng trăng, con bọ chè, cườm chim cu…

Trên những tấm vải thổ cẩm của dân tộc Cơ Ho, nét độc đáo nhất chính là những họa tiết, hoa văn sinh động được người dệt gửi gắm bằng tất cả tâm hồn, tình cảm cũng như sự cảm nhận về thế giới tự nhiên, con người của mình.

 

Dân tộc Mạ là một trong những tộc người sinh sống lâu đời tại vùng đất cao nguyên đại ngàn, người Mạ cư trú chủ yếu ở các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông, Đắk Lắk, Đồng Nai,…Họ sống tập trung ở các huyện phía Nam của tỉnh Lâm Đồng: Bảo Lộc, Bảo Lâm, Đạ Tẻh, Cát Tiên … Theo số liệu Tổng điều tra dân số các dân tộc năm 2009, người Mạ ở Tây Nguyên có dân số là 38.377 người.

Đời sống bà con nơi đây thời gian qua đã không ngừng được cải thiện. Chính việc mạnh dạn thâm canh trồng cây cà phê thay cho cây sắn, ngô, lúa… đã giúp bà con từng bước làm giàu trên chính mảnh đất của mình. Nhiều gia đình từng bước thoát nghèo từ mô hình thâm canh cây cà phê.

Văn hóa dân tộc Mạ có từ lâu đời với nhiều truyền thuyết, sử thi khác nhau. Nét đặc trưng văn hóa thể hiện rõ nhất là qua bộ nhạc cụ truyền thống, phong tục, trang phục và nhà dài truyền thống.

Phụ nữ Mạ mặc váy quần dài quá bắp chân, áo chui đầu vừa sát thân, dài tới thắt lưng và kín tà. Trong khi đó, Nam đóng khố, áo hở tà, vạt sau dài hơn vạt trước, về mùa đông thì nhiều người ở trần.

Khố của nam giới có loại dài: loại ngắn, có loại đơn giản chỉ một màu chàm sẫm và hai đường hoa văn đơn sơ dọc theo rìa mép. Có loại ở hai đầu khố còn đính thêm những chuỗi hật cườm và đề những dải tua dài. Nam nữ đều có áo chui đầu, áo nam thường rộng hơn một chút, hở tà, vạt sau dài hơn vạt trươc và dài che kín mông. Có loại còn thêu tua dài nổi ở vạt sau. Áo có nhiều loại: Áo dài tay, ngắn tay và cộc tay. Mùa lạnh, những người già thường khoác thêm một tấm mền.

Nghệ thuật phối màu của người Mạ đạt tới mức tinh tế và điêu luyện. Sử dụng màu sắc đáng được chú ý, người Mạ dùng màu đen làm màu chủ đạo. Bố cục hoa văn và các mảng màu vượt ra khỏi đăng đối đơn điệu, cứng nhắc, tạo cho người ngắm một cảm giác dễ chịu. Sự phối màu thể hiện được sự tinh tế của họ, màu sắc của các sợi vải được nhuộm từ các loại cây khác nhau.

Quan niệm về màu sắc rất độc đáo, màu đen tượng trưng cho đất đai mà cả cuộc đời từ lúc sinh ra cho đến lúc chết con người đều gắn bó; màu đỏ tượng trưng cho khát vọng, ý chí vươn lên của một con người, tình yêu – màu xanh là màu của đất trời, cây lá – màu vàng là màu của ánh sáng, là sự kết hợp hài hoà giữa con người và thiên nhiên. Qua việc phối màu của họ trên trang phục cũng như các sản phẩm thủ công, chúng ta có thể hiểu người Mạ đang mong muốn điều gì, đồng thời chúng ta cũng có thể hiểu thêm về nét văn hóa ăn, ở, mặc của họ.
Người Mạ còn có tục “cà răng, căng tai”, đeo nhiều vòng trang sức như đôi vòng hoặc bông tai cỡ lớn bằng đồng, kền, ngà voi hoặc bằng gỗ hay những khoanh rứa (kar) vàng. Đàn bà thường mang ở cổ những chuỗi hạt cườm có nhiều màu sắc bên cạnh những chiếc vòng đồng. Nam nữ đều thích mang nhiều vòng đồng ở cổ tay có những ngấn khắc chìm, đó là ký hiệu ghi nhận của các lễ hiến sinh tế thần linh mong cầu may cho chính mình.

Hiện nay thì tục này không còn nữa, song trong cộng đồng vẫn còn nhiều người già có những vành tai rất rộng bởi vì đã từng đeo những vòng to bằng gỗ hay ngà voi ở lỗ tai.

Y phục của người Mạ hiện nay đã có nhiều thay đổi, chỉ có một số người già còn mặc khố. Nữ giới tuy vẫn còn mặc váy quấn nhưng nhiều cô gái đã ưa mặc váy tân thời (váy ống), khi đi xa, nam giới có nhiều người mặc quần âu và áo sơ mi, phụ nữ thường mặc áo dệt kim hoặc áo may sẵn của các cửa hàng tạp hóa.

 

Dân tộc Mnông
Dân tộc Mnông còn có tên gọi khác Bu-dâng, Preh, Ger, Nong, Prâng, Rlăm, Kuyênh, Chil Bu Nơr. Người Mnông cư trú chủ yếu ở tỉnh Đắk Lắk, Đắc Nông, Lâm Đồng và Bình Phước, nhưng tập trung đông nhất là tại tỉnh Đắk Lắk, tại những huyện phía Tây-Nam. Theo số liệu Tổng điều tra dân số các dân tộc năm 2009, người Mnông ở Tây Nguyên có dân số là 89.562 người.

Cư dân Mnông cũng là một trong những dân tộc tại chỗ ở Tây Nguyên đã gắn bó với cây cà phê từ những năm 80 – 90 của thế kỷ XX. Nhờ trồng cà phê, cuộc sống của nhiều gia đình Mnông trở nên khấm khá hơn, đủ ăn, đủ mặc, con cái được học hành đầy đủ, nhiều hộ đã xây nhà lầu, sắm xe hơi…Người Mnông có nền văn hóa dân gian vô cùng độc đáo với các nghi lễ, lễ hội, truyện cổ, lời nói vần, luật tục…và những nghề thủ công truyền thống như đan lát mây tre,…đực biệt là nghề dệt sợi, nhuộm hoa văn trên nền vải đạt tới trình độ tinh tế, thể hiện sự cần cù, khéo léo, sáng tạo của phụ nữ Mnông. Do kinh tế ổn định, họ đã có điều kiện hơn để truyền dạy cồng chiêng, hát sử thi, hát dân ca cho lớp trẻ, đặc biệt là bảo tồn được nghề dệt truyền thống của tộc người.

Trang phục truyền thống của người Mnông là các loại y phục kiểu choàng quấn, như áo chui đầu, mền khoác ngoài và các loại khố, các loại váy mảnh mặc kiểu quấn quanh thân người. Ban đầu người Mnông dùng vỏ thân cây tước thành sợi để dệt thành trang phục. Áo vỏ cây chính là trang phục đầu tiên và duy nhất giúp con người che đậy cơ thể, chống lại giá rét khi đi trong rừng rậm… Người Mnông thường tách phần vỏ cây chặt từng khúc ngắn, lột hết lớp áo cứng bên ngoài rồi mang luộc chín, đập mềm, phơi khô, sau đó tước thành sợi nhỏ, đưa vào khung dệt. Người Mnông có hai kiểu áo làm bằng vỏ cây phổ biến nhất: áo may hai bên hông rồi khoét lỗ chính giữa, chui đầu vào (không có tay), loại này thường dùng cây lớn, tạo được khổ vỏ rộng; áo khoét lỗ, chui đầu nhưng do khổ vỏ cây hẹp nên dùng dây rừng se lại buộc hai bên hông.

Sau này họ dùng bông của quả blang (bông gòn rừng). Khi có đã có đầy đủ số lượng bông, người ta mang phơi khô, nhặt và tách cho hết hạt, đập kỹ, rồi dùng một dụng cụ để bật cho sợi bông tơi ra không còn dính bết vào nhau. Sau đó là công đoạn dùng sa cán bông thành sợi. Qua nhiều lần se như thế bông sẽ thành sợi thô, cuộn lại trong sa thành chỉ rồi cuốn lại thành từng lọn, mang nhuộm trong một chiếc nồi gốm để tạo ra thành các màu cần thiết. Màu sắc thổ cẩm truyền thống của người Mnông gồm các màu chủ đạo là đen, đỏ, vàng, tím, trắng, xanh… Người ta thường chọn nền vải là màu đen, tượng trưng cho màu đất; màu đỏ tượng trưng cho sự dũng cảm, sức mạnh siêu nhiên, khát vọng tình yêu; màu xanh tượng trưng cho màu của trời, sông núi; màu vàng tượng trưng cho sự hài hòa, mơ ước, khát vọng trong cuộc sống của con người Mnông…

Phụ nữ Mnông thường mặc tấm váy quấn ngắn, ống tay áo ngắn vừa mang dáng vẻ dịu dàng, lại vừa phô được vẻ đẹp khỏe khoắn, nhanh nhẹn. Màu sắc trên trang phục thường là màu chàm thẫm được trang trí bằng các hoa văn truyền thống màu đỏ, xanh. Ngày xưa, phụ nữ Mnông để ngực trần, nửa phần dưới mặc váy. Có hai loại váy: váy dệt bằng sợi vỏ cây, váy dệt bằng chỉ bông vải. Phụ nữ mặc váy từ ngang thắt lung xuống đến phía dưới đầu gối vừa giáp vòng chân chứ không che lấp vòng chân. Người nào không đeo vòng chân thì mặc váy xuống đến gót chân. Để giữ váy cho chặt, nơi lưng váy có buộc dây lưng, dây lưng của phụ nữ thắt bằng dây đồng, có treo những lục lạc nhỏ xen kẽ với những bông hoa bằng bạc.

Nam giới Mnông xưa thường sử dụng chiếc khố quấn đặc trưng, nó được sử dụng trong các lễ hội, thậm chí trong sinh hoạt thường ngày của người già với các loại khố trắng, khố đen, khố hoa. Riêng khố trắng có hai loại là khố dệt bằng sợi vỏ cây (troi djăr) và khố dệt bằng chỉ trắng (troi bok), chiếc khố này dài từ một đến hai vòng lưng, người nghèo thường quấn khố này. Khố đen dệt bằng chỉ màu đen, có dệt hoa văn ở hai đầu khố, cuối đầu khố se thành chùm sợi, chiếc khố này dài từ 3 – 5 vòng lưng. Khố hoa dệt bằng chỉ đen (troi nhong), hai đầu có dệt hoa văn, phía cuối hai đầu khố có kết hoa bạc hoặc đồng, hay hạt cườm, dài từ 5 đến 7 vòng lưng; người giàu sang có địa vị mới quấn loại khố này. Trang trí hoa văn trên y phục nam giới còn có đặc điểm nữa là sử dụng những tua ngắn có màu đỏ rực để điểm trên hai đường biên của mép khố. Người đàn ông quấn khố hoa đi dự lễ hội được mọi người kính trọng và mến phục, làm rạng rỡ, nở mặt nở mày cho vợ con bởi ai cũng khen vợ nhà biết dệt, khéo tay kết những hạt cườm.

Người Mnông thích mang nhiều đồ trang sức như: vòng cổ, vòng tay, vòng chân, hoa tai, nhẫn bằng đồng hay bằng bạc… Riêng nữ giới còn thích quàng lên cổ những chuỗi hạt cườm ngũ sắc.

Trang phục truyền thống là một trong những nét biểu trưng cho văn hóa của người Mnông, những hoa văn được chính tay những người phụ nữ Mnông dệt thể hiện cho tinh hoa bản sắc văn hóa trong đời sống cộng đồng thân thuộc mà đậm nét.